Đóng

Quá trình khai hoang mở đất khẳng định chủ quyền ở Trường Sa – Hoàng Sa.

Quá trình khai hoang mở đất khẳng định chủ quyền ở Trường Sa – Hoàng Sa.

Lời cám ơn

Khi nội dung giáo dục về biển – đảo trong sách giáo khoa còn hạn chế, cuộc thi viết “Thanh niên, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam” đã tạo điều kiện cho chúng tôi thêm một lần nữa tự nghiên cứu, tự tìm hiểu kiến thức về biển – đảo quê hương của Tổ quốc. Để thêm một lần nữa chúng tôi được thấy được vẻ đẹp của đất nước ta.

Bài dự thi của chúng tôi dựa trên việc tổng hợp những thông tin báo chí trong và ngoài nước, tổng hợp tri thức từ các nước phát triển. Chúng tôi mong Ban tổ chức cuộc thi châm trước nếu các ý kiến chưa thực sự phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Trân trọng.

Nội dung bài dự thi

Phần 1: Quá trình khai hoang mở đất khẳng định chủ quyền ở Trường Sa – Hoàng Sa

Tập hợp những thông tin sưu tầm được từ báo chí trong và ngoài nước, những câu chuyện dân gian địa phương. Kết hợp với những suy đoán logic khoa học để tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với biển Đông.

Chúng tôi tin là từ ít nhất 800 năm trước, cha ông ta đã là chủ nhân của những đảo san hô giữa biển Đông.

Phần 2:  Thảo luận, đóng góp ý kiến về:  nước sạch – rau xanh và môi trường các quần đảo tuyến ngoài

Tổng hợp kinh nghiệm của các nước phát triển như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ … kết hợp với kinh nghiệm của đồng bào các tỉnh Miền Tây Nam Bộ. Chúng tôi tin rằng thu giữ nước mưa chính là cách tốt nhất để cung cấp nước sạch cho sinh hoạt và cho sản xuất.

Tổng hợp kinh nghiệm trồng rau, kỹ thuật xử lý vệ sinh môi trường của bà con Việt kiều tại Hàn Quốc.

Chúng tôi kiến nghị Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam hỗ trợ các gia đình có công với cách mạng trên huyện đảo tiền tiêu xây bể chứa nước mưa. Với giá thành xây dựng bể kiên cố vào khoảng 1triệu VNĐ/ 1m3, chi phí này nằm trong khả năng của Trung ương Hội. Việc xây tặng bể chứa nước mưa có thể là một điểm nhấn mới cho phong trào tình nguyện của thanh niên – sinh viên.

Hồ sơ tác giả

  1. Tác giả: Đỗ Cao Sơn chịu trách nhiệm về nội dung.

Quê quán: Thái Bình. Email: dcson2409@gmail.com

Nghề nghiệp: nghiên cứu sinh ngành Hóa học Năng lượng và Môi trường, Đại học Sogang. Giáo viên hợp đồng tại trung tâm quang hóa (KCAP) thuộc đại học Sogang.

Các công trình khoa học đã công bố:

– Ứng dụng Silica Zeolite trong hấp thụ Iodine và các đồng vị phóng xạ của Iodine trong xử lý nước thải nhà máy điện hạt nhân.

(Energy Environmental science, DOI: 10.1039/C5EE02843D )

– Hấp thụ khí CO2 ướt từ nhà máy nhiệt điện

(Science, DOI: 10.1126/science.aab1680)

– Xúc tác PdO/TiO2 trong phản ứng quang hoá tổng hợp Methyl Formate

(RSC Adv. 2014, 4, 33144)

– Phản ứng quang hóa tổng hợp Methanol với xúc tác Metal-TiO2

(Catalyst Today 2014, trang 235)

  1. Đồng Tác giả: Ngô Đăng Toàn chịu trách nhiệm về kỹ thuật.

Quê quán: thành phố Hà Nội. Email:dangtoan83@gmail.com

Nghề nghiệp: Nghiên cứu sinh khoa tôn giáo trường đại học Sogang – Hàn Quốc. Giảng viên trường đại học Khoa Học Xã Hội Nhân Văn – Hà Nội.

Bài dự thi được hoàn thiện với sự giúp đỡ của các đồng chí đã và đang làm nhiệm vụ tại quần đảo Trường Sa: đồng chí có bí danh (nick name) “người lái đò” – tên thường gọi “Tống Tùng”, đồng chí có bí danh “Biển Mặn” – cựu sỹ quan đảo “East ST”, đồng chí có  binh bí danh “Clone Musk” tên thường gọi Phúc Lê, cựu chiến sỹ đảo Sơn Ca, đồng chí Chi hội trưởng chi hội Sinh viên Việt Nam tại Sogang Đỗ Xuân Hà (quê làng chài Phước Tỉnh – tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

Mục lục Trang
Phần I: Quá trình khai hoang mở đất khẳng định chủ quyền ở Trường Sa – Hoàng Sa
1. Chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với các đảo ở Hoàng Sa – Trường Sa đến từ chính tên gọi của các đảo 9
2. Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi với nhiều cụm đảo phía Bắc Trường Sa 10
3. Chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa đến từ sự tồn tại lâu đời của cộng đồng dân cư Việt. 12
4. Trường Sa bừng tỉnh 14
5. Thanh niên là lực lượng quan trọng bảo vệ sự trường tồn của Biển – Đảo quê hương 17
6. Tổng kết phần I 19
7. Tài liệu tham khảo

20Phần 2:Thảo luận, đóng góp ý kiến về:  nước sạch – rau xanh  và môi trường các quần đảo tuyến ngoài 1. Cung cấp nước phục vụ sinh hoạt231.1 Singapore241.2 Pháp251.3 Nhật Bản261.4 Hoa Kỳ271.5 Thái Lan281.6 Xứ Wale291.7 Văn hóa sử dụng nước mưa ở Việt Nam291.8 Đề xuất giải pháp cho các đảo tuyến ngoài 1.8.1 Các huyện đảo tiền tiêu như Phú Quý, Lý Sơn, Côn Đảo, huyện đảo thanh niên Bạch Long Vỹ …311.8.2 Huyện đảo Trường Sa351.9 Thu giữ nước mưa từ khu vực bê tông hóa371.10 Đập ngầm ngăn mặn – tích nước mưa ở đảo38

1. 11 Kết luận

401. 12 Tài liệu tham khảo

2. Cung cấp nước chotrồng trọt422.1 Mô hình Ấn Độ442.2 Vương Quốc Anh452.3 Ninh Thuận462.4 Hàn Quốc462.5 Giải pháp đề xuất để bổ sung nguồn nước trồng cây cho các đảo tuyến ngoài472.6 Tài liệu tham khảo473. Bảo vệ môi trường các đảo 3.1 Bảo vệ môi trường vùng nước quanh đảo483.2 Bảo vệ môi trường trên đảo 3.2.1 Nước thải sinh hoạt483.2.2 Chất thải sinh hoạt493.2.3. Chất thải chăn nuôi503.2.4 Rác thải từ cây xanh tạo bóng mát523.3 Côn trùng gây hại533. 4 Tài liệu tham khảo544. Rau xanh cho các đảo tuyến ngoài 4.1 Nước trồng rau554.2 Phân bón, đất trồng554.3 Kỹ thuật trồng rau564.4 Tài liệu tham khảo585. Tổng kết phần II

59

Phần I

Quá trình khai hoang mở đất

khẳng định chủ quyền ở Trường Sa – Hoàng Sa.

Việt Nam là một quốc gia biển với hơn 3260 km bờ biển, hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, và hàng chục quần đảo. Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 được hơn 160 nước tham gia (trong đó 14 nước đang chờ quốc hội phê chuẩn thành luật, hơn 150 nước tham gia đầy đủ), vùng biển Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2 và có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở phía Đông, hòn Ông – hòn Bà ở phía Tây Nam (tên thường gọi là đảo Khoai – hay Wai theo giọng Tây Nam bộ)

  1. Chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với các đảo ở Hoàng Sa – Trường Sa đến từ chính tên gọi của các đảo.

Với quần đảo Hoàng Sa, tên các đảo lớn dù bị Anh hóa nhiều, nhưng tên tiếng Việt và Tiếng Anh giống nhau về nghĩa, trong khi tên đảo do người Hoa đặt lại khác nhau rất nhiều. Ví dụ: Đảo Cây – Tree Island (người Hoa gọi là Triệu Thuật đảo), Đảo Phú Lâm – Woody Island (người Hoa gọi là Vĩnh Hưng đảo). Tên một số đảo bằng tiếng Anh bản chất là phiên âm tiếng Việt ví dụ: Đảo Duy Mộng – Drummond Island(người Hoa gọi Tấn Khanh đảo), đảo Nam Yết –  Namyit island, đảo Sinh Tồn – Sin Cowe Island… Rất nhiều đảo tên tiếng Anh trùng với tên tiếng Việt: Thitu Island – đảo Thị Tứ, Loaita island – đảo Loại Ta, Triton Island – đảo Tri Tôn, đá Len Đao – Lendao reef …

Tên tiếng Anh của các đảo trùng với tên tiếng Việt có thể do các thuyền buôn thời nha phiến đi lại gặp các thị tộc sinh sống trên đảo lúc biển lặng. Họ tiến hành buôn bán, trao đổi hàng hoá và đặt tên đảo theo cách gọi của người dân trên đảo.Vấn đề này xin được bàn thêm ở phần sau của bài viết.

Văn bản chính thống cấp nhà nước đầu tiên được biết đến là đầu năm 1937, chính quyền Anh kêu gọi chính quyền “bảo hộ” ở Đông Dương cho họ “thuê” hai đảo Thị Tứ (Thitu Island) và Ba Bình  (Itu Aba Island) để xây cất sân bay nhằm đối phó với sự bành trướng của quân Nhật ở Hải Nam1.

  1. Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi với nhiều cụm đảo phía Bắc Trường Sa.

Chuỗi đảo san hô Hoàng Trường Sa trải rộng trên một vùng biển hàng trăm nghìn km2 kéo dài gần một ngàn km. Trong phạm vi một bài viết ngắn, tôi xin tập trung vào quần đảo Trường Sa.

Giai đoạn sau 1945 và đặc biệt giai đoạn sau năm 1954, nhiều đảo ở Trường Sa đã được chính quyền miền Nam cắm mốc chủ quyền. Suốt một thời gian dài không hề gặp phải sự phản đối của các bên:

  • Năm 1956, tàu HQ04 của Hải quân Miền Nam dựng cột cờ ở đảo Trường Sa.
  • Năm 1961, tàu Vạn Kiếp và tàu Vân Đồn đưa học viên hải quân đi cắm trại và dựng cột cờ trên hai đảo Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, An Bang.
  • Năm 1962, tàu hải quân tiếp tục đưa học viên hải quân trở lại Nam Yết, Trường Sa …
  • Năm 1963, ba tàu chiến Hương Giang, Chi Lăng, Kỳ Hoà thực hiện chuyến tuần tra cấp nhà nước, tiến hành tu bổ các cột cờ bằng thép: 19.05.1963 tại đảo Trường Sa, 20.05.1963 tại An Bang, 22.05.1963 tại đảo Thị Tứ, Loại Ta; 24.05.1963 tại Song Tử Đông – Song Tử Tây.

Các chuyến tuần tra diễn ra hàng năm, kéo dài nhiều ngày và không gặp phải bất kỳ phản đối nào từ các nước láng giềng. (trích: Sách trắng năm 1975 về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa)2

       Đến năm 1968, Hải quân Việt Nam Cộng hòa không thể tiếp tục tuần tra thường xuyên như trước. Nhân cơ hội này, chính quyền Philippin đã chiếm đóng bất hợp pháp nhiều đảo lớn ở Trường Sa. Có thể kể ra những trường hợp như: đảo Song tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Loại Ta, đảo Bến Lạc…

Nhiều nước đã tuyên truyền việc họ chốt giữ các đảo Loại Ta, Thị Tứ, Bến Lạc, Song Tử Đông là những nơi vô chủ3,4. Đấy là điều vô lý, bẻ cong sự thật. Ngay chính tên gọi bằng tiếng Anh từ trăm năm trước cho thấy chủ quyền của người Việt Nam tại Thị Tứ, Loại Ta …

Việc bẻ cong sự thật, lập lờ trắng đen khi cho rằng nhiều đảo ở Trường Sa vô chủ (dù đã được chính quyền Việt Nam Cộng hòa dựng bia chủ quyền) bị chính các nhà khoa học quốc tế làm việc tại CNA phản bác. 5

  1. Chủ quyền của Việt Nam ở Trường Sa đến từ sự tồn tại lâu đời của cộng đồng dân cư Việt.

Người Việt sinh sống tại các đảo ở Trường Sa từ khi nào?

Có thể khẳng định là từ rất lâu, lâu đến mức sử sách cũng không ghi chép rõ ràng được. Nhiều người nhầm lẫn khi nói: “Chính quyền đưa dân ra Trường Sa sinh sống”! Thực ra, chính quyền hiện nay không đưa dân ra Trường Sa sống, mà chỉ tiến hành quy hoạch lại dân cư, định cư dân du mục.

Từ tám trăm năm trước, khi Chế Bồng Nga đem quân đánh nhà Trần, lịch sử đã miêu tả đất nước Cham-pa có những dòng tộc chỉ sống trên ghe thuyền6, 6a. Sau này, tuy nhà nước Champa tan rã, nhưng lối sống của một bộ phận người Việt ở phía Nam chịu ảnh hưởng của nền văn minh Champa. Đối với họ, chiếc ghe chính là nhà. Mùa biển lặng, cả làng, già trẻ lớn bé đều ra khơi; biển vào mùa bão, các họ tộc lại về bờ, quây quần trong các lòng sông. Khi ấy, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cho phép con người sinh sống quanh năm tại các đảo nhỏ dù không có chiến tranh hay tranh chấp cấp nhà nước, không có căn cứ hải quân nào ở giữa biển. Biển Đông chỉ có ngư dân, thương lái và hải tặc.

Mùa biển lặng, mỗi một hòn đảo nhỏ đại diện cho một ngư trường truyền thống là sở hữu của một gia tộc7.Đảo chính là cơ sở hậu cần, kho tàng của các thị tộc8, 9,10. Giống như dân du mục Trung Á, mỗi một ngọn núi là của một thị tộc. Mùa xuân họ lên núi thả gia súc, mùa đông về quanh các con sông. Có những trẻ nhỏ sinh ra trên đảo; cũng có những người già, người bệnh qua đời ở đảo. Những người chết được cho vào chum, vùi xuống cát san hô. Phan Vinh là một điểm đảo nhỏ, nhưng khi đào đất xây chùa, bộ đội đã gặp những chiếc chum như thế11. Có lẽ xương cốt bên trong biến mất hoàn toàn vì đảo bị phong hóa, phần đất xây chùa vốn chìm trong thủy triều. Những cái tên “Thị Tứ”, “Loại Ta”, “Nam Yết”, “Sơn Ca”, “Song Tử” có thể là tên gọi của các thị tộc lớn sở hữu đảo thời kỳ thế kỷ 17 – 18. Cái tên “Thị Tứ” thuần Việt, có thể xuất hiện từ thời kỳ “chúa Nguyễn vào Nam” cùng với các địa danh như “Thị Vải”, “Thị Cách – Thị Hồng”, “Bà Rịa”…

Gần đây, báo chí và các nhà sử học tập trung nhiều vào đội hùng binh Hoàng Sa từ thế kỷ 18 mà lãng quên vai trò của nhà nước Cham-pa tồn tại từ năm 192 đến năm 1832. Trong suốt quá trình tồn tại của mình, có lúc thịnh, có lúc suy. Nhưng chắc chắn nhà nước Champa có thời kỳ dài hải quân rất mạnh. Thủy quân của các vương triều ở Miền Bắc mạnh nhất ở thời Lý – Trần. Nhưng cũng chính thủy quân Champa là nguyên nhân trực tiếp khiến vương triều Lý – Trần sụp đổ. Họ vô đối ngoài biển. Họ xộc thẳng vào sâu các con sông, đánh đến tận Kiếp Bạc – Hải Dương; làm điều mà hải quân phương Bắc lúc bấy giờ không thể làm. Sau khi Champa và Đại Việt sát nhập bằng con đường hôn phối và bảo hộ; các chúa Nguyễn đã tiếp quản tất cả những quyền lợi, nghĩa vụ của nhà nước Champa để lại. Các chúa Nguyễn thực sự là các bậc thánh minh của dân tộc. Họ không chỉ thay thế triều đại Champa cai trị và thu thuế mà còn phát triển công nghiệp. Các chúa Nguyễn có chính sách an dân rất tốt. Quan lại khâm sai vào mùa xuân phải đi tuần tra biên giới. Các chúa Nguyễn nhiều lần tuần thú các đảo xa bờ. Côn Đảo, Phú Quý, Phú Quốc đều có núi Chúa tương truyền là nơi ngày xưa chúa Nguyễn đến thăm. Đội hùng binh Hoàng Sa và đội tuần tra Bắc Hải12 do chúa Nguyễn lập ra bản chất là kế thừa quyền lợi và nghĩa vụ của nhà nước Champa. Đội hùng binh Hoàng Sa và đội tuần tra Bắc Hải không chỉ đo vẽ bản đồ các đảo mà còn tiến hành thu thuế, phân xử các tranh chấp của thị tộc trên biển, tiễu phạt hải tặc để an dân.  (thời Nguyễn, Hoàng Sa bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa bây giờ)

Giữa thế kỷ 17 là thời cực thịnh của Hà Lan, nhưng họ đã bị chúa Nguyễn đánh bại nhiều lần13. Một lực lượng hải quân có thể đánh bại hải quân Đông Ấn Hà Lan (VOC) trên biển thời kỳ 1630 – 1650 thì chắc chắn đấy là một lực lượng hải quân hùng hậu có khả năng chinh phục và chinh phạt. Tôi đã được nghe các cụ cao niên đình Phi Yến ở Côn Đảo kể các câu chuyện về đội tuần tra triều đình truy quét hải tặc Mã Lai đến tận biên giới Nam Dương và đánh bại sự nhòm ngó của đế quốc Anh. Có thể các câu chuyện dân gian của các cụ cao niên có nhiều dị bản, nhưng không hẳn là không có cơ sở. Vào thời ấy, hải quân Đông Ấn Hà Lan còn bị đánh bại trên biển thì việc Chúa Nguyễn tiễu trừ hải tặc ở Trường Sa là hoàn toàn có cơ sở.

  1. Trường Sa bừng tỉnh.

Trường Sa có thể không nhiều dầu – khí như đồn đoán của các nước phương Tây. Nhưng Trường Sa là yếu huyệt nằm trong “động mạch chủ” của Đông Á. Bất kỳ một nền văn minh nào, một quốc gia phát triển đến mấy cũng phải cần năng lượng – ¾ dầu và khí đốt nhập khẩu của khu vực Đông Á phải đi qua vùng biển Trường Sa.

Bản đồ dầu khí đã kiểm chứng khu vực biển Đông – CSIS – EIA

Do yếu tố quá quan trọng của Trường Sa,  các bên có tranh chấp ở Trường Sa không ngừng tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng. Trung Quốc – cường quốc có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới dự tính chi 100 tỷ USD để đầu tư cơ sở hạ tầng nơi họ đóng quân phi pháp ở Trường Sa – Hoàng Sa. Philippin cũng đưa 400 dân ra ở phi pháp trên đảo Thị Tứ của Việt Nam …

Với Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng sự chung tay góp sức của toàn dân, huyện đảo Trường Sa ngày càng trở nên đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Việt Nam không tham gia vào quá trình chạy đua xây đảo nhân tạo14, nhưng cơ sở đóng quân ngày càng trở nên khang trang, rộng rãi. Bãi bồi của đảo được gia cố để tránh tình trạng sạt lở mùa bão (Đá An Nhơn – tên tiếng Anh là Loaita Cay đã từng rộng 5ha – tương đương đảo Trường Sa Đông nhưng nay chỉ còn khoảng 0,44ha do bị sạt lở do bão14b). Những ngôi chùa được phục dựng theo lối truyền thống. Những cụm tái định cư được xây theo lối hiện đại để người dân không phải vào đất liền tránh bão… Song Tử, Sinh Tồn, Đá Tây, thị trấn Trường Sa và Phan Vinh sẽ là những trung tâm nghề cá lớn của quốc gia.

Từ trước chiến tranh Thế giới thứ hai, người Anh đã nhìn thấy vị trí vô cùng quan trọng của quần đảo Trường Sa. Ngày nay, Trường Sa nằm trên trục giao thương quan trọng bậc nhất của nhân loại. Ở đây hội đủ mọi yếu tố để trở thành thương cảng hàng hải cũng như hàng không tầm cỡ thế giới. Thế nhưng hiện tại Trường Sa vẫn thiếu rau xanh, thiếu nước ngọt, vào mùa mưa rất nhiều ruồi…. Các sỹ quan nằm vùng ở đảo lâu năm khi quay về đất liền có nguy cơ bị sạn thận… Những vấn đề trên, tôi xin trình bày trong phần sau của bài viết.

  1. Thanh niên là lực lượng quan trọng bảo vệ sự trường tồn của Biển – Đảo quê hương.

Tôi còn nhớ năm 2005, khi tôi thấy các bạn Trung Quốc thảo luận trong diễn đàn về việc nổi hóa Chữ Thập. Tôi đã nghĩ các bạn ấy điên! Tôi xin giới thiệu quy hoạch Đá Lát tầm nhìn 2030 của một thành viên trong diễn đàn “Trí Tuệ Việt Nam” phác họa. Có thể “quy hoạch” này sẽ không bao giờ được sử dụng vì nó còn hết sức sơ khai. Nhưng nó đã chứng minh lòng yêu nước, sự đan mê tìm hiểu về Trường Sa của một bộ phận thanh niên. Để có được một hình vẽ có tính lô-gíc cũng đòi hỏi người tham gia diễn đàn cần sự hiểu biết về Trường Sa: hiểu được vị trí địa lý, hiểu được khí hậu, hiểu được địa chất – thủy văn …

Hiện nay, kiến thức về biển đảo nói chung, Trường Sa và Hoàng Sa nói riêng trong chương trình giáo dục phổ thông còn rất hạn chế. Thanh niên Việt Nam tìm hiểu về Biển – Đảo, về Trường Sa chủ yếu nhờ báo chí – truyền thông, hoặc các diễn đàn trên internet. Bộ Thông tin và Truyền thông đã trở thành ngọn cờ đầu trong việc đem tri thức về Trường Sa đến thanh niên.

Để bảo vệ đảo khỏi sạt lở cần năm năm xây kè bê tông, để xanh hóa đảo cần mười năm. Nhưng để cho biển – đảo quê hương trường tồn phải liên tục đầu tư cho con người.

  • Làm sao chúng ta có thể giàu lên từ biển khi thanh niên Việt Nam không biết mười hai huyện đảo của chúng ta có những thuận lợi và khó khăn gì ?

Tôi kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có một chương dạy về lịch sử – địa lý 12 huyện đảo. Hội nhập quốc tế là tốt. Nhưng rất buồn khi nhiều thanh niên Việt Nam không thể kể được khoảng 6/12 huyện đảo, hoặc vài điểm đảo ở Trường Sa – Hoàng Sa đang bị nước ngoài chiếm nhưng lại có thể kể tên hàng chục ca sỹ, người mẫu, vận động viên nước ngoài.

  • Làm sao chúng ta có thể trở thành quốc gia biển, làm sao chúng ta có thể có hải quân mạnh khi rất ít thanh thiếu niên biết bơi ?!

Tôi kiến nghị chúng ta phải đưa môn bơi là một nội dung giáo dục bắt buộc ở phổ thông. Nếu lấy lý do thiếu tiền để giải thích là hết sức thiển cận. Rộng lớn như Nga, như Mỹ, giàu có như Tokyo, Seoul cũng không thể một trường học – một bể bơi. Trong cái khó, ló cái khôn. Một thầy giáo ở Nghệ An đã thiết kế bể bơi mini với giá thành chỉ 10tr VNĐ…

  • Muốn giữ vững chủ quyền của tổ quốc trước sự bành trướng của các nước lớn người Việt phải đoàn kết, trước hết là lực lượng thanh niên. Những người được sinh ra trong nền hoà bình, lớn lên trong thời kỳ thông tin rộng mở và đa chiều phải thể hiện mình là thế hệ tiên phong. Gạt đi những bất đồng không đáng có, sống tuân thủ pháp luật và chung tay cùng cả nước xây dựng quê hương giàu mạnh và thịnh vượng. Chỉ có đoàn kết chúng ta mới bảo vệ được chủ quyền quê hương. Chỉ có đoàn kết mới mong giàu – mạnh.

Tổng kết phần I

Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa là không thể tranh cãi. Chủ quyền của chúng ta đến từ chính tên gọi tiếng Anh nhưng rất thuần Việt, ví dụ: Thị Tứ Island, Loaita Island, Tri Tôn Island. Tại sao các nhà hằng hải viễn dương lại đặt tên các đảo như vậy! Chắc chắn họ đã gặp những cộng đồng người Việt sinh sống trên đảo, nên tên đảo ghi trong bản đồ viễn dương trùng với cách gọi của người dân cư ngụ trên đảo. Nếu những đảo đấy không người ở, nó sẽ bị ghi những cái tên rất Tây kiểu như: Robert Island, Lincoln Island (thường là tên của vị thuyền trưởng).

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các quốc gia xung quanh biển Đông cần tuyệt đối không được sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực. Một dân tộc như Việt Nam không bao giờ sợ chiến tranh. Nhưng hoà bình, thịnh vượng, và cùng nhau đạt những thành tựu kinh tế bao giờ cũng tốt hơn.

Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền văn minh tri thức, nơi mà sự thật và lẽ phải cần được tôn trọng. Với những đảo mà người Việt Nam, chính quyền Việt Nam đã từng cắm mốc chủ quyền và quản lý một thời gian dài không bị bất kỳ ai phản đối thiết nghĩ các nước nên bàn giao lại cho chính phủ Việt Nam. Lịch sử thế giới đã chứng kiến những hành động như thế:  Trung Quốc trao trả Bạch Long Vỹ cho Việt Nam năm 1957,  Mỹ trả quyền quản lý Senkaku cho Nhật năm 1972, Việt Nam trao quyền quản lý đảo Wai năm 1988 cho Campuchia,  Nga trả Trung Quốc 2 đảo 14/10/2008…

Quá trình sưu tầm các tư liệu về Trường Sa mới tập trung chủ yếu vào các tư liệu cổ chính thống – những thứ đã bị thất lạc đến 99%. Nhìn sang Trung Quốc, thế kỷ 14 người Trung Quốc viết Tam Quốc Diễn Nghĩa và nó trở thành “tư liệu lịch sử” cho các thế hệ sau. Người Hàn xây lại các cung điện sau năm 1960 và nay nó trở thành “di tích lịch sử quốc gia”. Nguồn tư liệu để người Tàu, người Hàn phục dựng lịch sử không chỉ dựa trên sách vở mà còn dựa vào cả dân gian. Đây thực sự là những bài học để chúng ta nghiên cứu. Chúng ta cần tập hợp và chuyển thể những câu chuyện dân gian thành những tác phẩm văn học lịch sử. Cần nghiên cứu nhiều hơn về hai quốc gia cổ đã sát nhập vào Đại Việt là Phù Nam và Champa.

  1. Tài liệu tham khảo

1.M. Chemillier‐Gendreau, note 15 supra, at Annex; http://www.combinedfleet.com/SouthChinaSea_t.htm

  1. http://www.baokhanhhoa.com.vn/van-hoa/201407/bia-chu-quyen-quan-dao-truong-sa-bang-chung-quan-trong-khang-dinh-chu-quyen-bien-dao-2326224/
  2. 3. http://news.abs-cbn.com/global-ilipino/07/11/11/secret-mission-1970-put-ph-troops-spratlys
  3. 4. http://www.manilamaildc.net/NAVY-OFFICER-TELLS-HOW-THE-PHILIPPINES-CLAIMED-SPRATLY-ISLETS.HTML
  4. 5. http://www.philstar.com/headlines/2014/11/12/1390961/us-think-tank-philippines-illegally-occupying-2-islands-spratlys
  5. Lối sống trên ghe thuyền ngày nay còn tồn tại trong một cộng nhỏ ở Đồng bằng sông Cửu Long (hiện nay, để giữ gìn môi trường vào tạo điều kiện cho trẻ con đi học nên nhà nước không khuyến khích và không cấp phép cho sinh sống trên ghe thuyền). Một bộ phận người Việt du mục dọc sông Mê Kông. Họ sinh sống trên các con thuyền, lũ lên họ đánh cá ở Biển Hồ, lũ xuống họ về rừng U Minh. Khi rừng U Minh bị phá để nuôi tôm, họ chỉ còn Biển Hồ. Ngày nay, chính quyền Camphuchia đang tiến hành trục xuất những người này dù họ đã sinh sống ở Biển Hồ từ thời chúa Nguyễn vào Nam (Họ chạy lọan về hồ Dầu Tiếng mang theo cả “căn nhà” là những chiếc ghe).

Lối sống trên ghe, trên thuyền là một nét rất đặc trưng của cư dân phía Nam. Chắc chắn những dân tộc Khơ me, Thái không có truyền thống sinh sống du cư trên ghe thuyền.

http://vnexpress.net/photo/thoi-su/phan-doi-cua-nghin-viet-kieu-khong-quoc-tich-ben-ho-dau-tieng-3446864.html

6b. https://nghiencuulichsu.com/2014/09/04/nui-xanh-nay-van-do-bien-khao-lich-su/

  1. 7. Ngày nay, dù tàu đánh cá được trang bị các thiết bị dò tìm hiện đại. Nhưng các ngư tộc vẫn có những “vùng đánh cá truyền thống”. Dân biển chấp nhận điều ấy. 15 năm trước, việc xâm phạm ngư trường sẽ phải đổi bằng tính mạng. 100 năm trước, có lẽ vấn đề tư hữu khốc liệt hơn nhiều.
  2. 8. http://www.baovanhoa.vn/VANHOAXUANATMUI2015/print-70683.vho
  3. http://baotintuc.vn/tin-tuc/dau-tich-nguoi-viet-tai-quan-dao-truong-sa-20140530223202229.htm
  4. http://baotintuc.vn/tin-tuc/dau-tich-nguoi-viet-tai-quan-dao-truong-sa-bai-1-dau-tich-nguoi-viet-co-20140529235610149.htm
  5. Thời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt rất quan tâm đến việc khảo cổ ở Trường Sa. Nhiều đoàn khảo cổ đã ra huyện Trường Sa làm việc. Tuy thu thập được nhiều cổ vật có giá trị. Nhưng công bằng mà nói những thứ đấy chưa là gì so với những cổ vật mà bộ đội ở đảo đào được trong quá trình đào đất trồng cây, đào công sự … Thời kỳ đầu những năm 90, cuộc sống của bộ đội ở đảo vô cùng khó khăn nhưng lại là thời điểm bắt đầu xây cất lớn. Sinh ra trong gia đình “cai đội”, bố tôi và bạn bè ông có nhiều năm tham gia xây dựng công trình biển. Tôi đã nhìn thấy rất nhiều cổ vật được lưu giữ ở tư gia các “cai đội”. Trong đấy, có những chiếc chum lớn còn rất nguyên vẹn. Việc áp dụng luật di sản với bộ đội Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc … là không dễ dàng! Ngày nay, đời sống kinh tế khá giả. Nên chăng nhà nước mua lại những cổ vật đấy để làm hiện vật trưng bày. Vừa là giáo dục văn hóa, vừa là bằng chứng khẳng định chủ quyền.
  6. http://www.vnsea.net/tabid/127/ArticleID/1854/language/vi-VN/Default.aspx
  7. “liên minh quân sự giữa Chúa Trịnh và Hà Lan”.

http://tailieudientu.lrc.tnu.edu.vn/Upload/Collection/brief/10025_2542012717527.pdf

14.http://vntinnhanh.vn/a/dai-tuong-phung-quang-thanh-viet-nam-co-hoat-dong-de-tang-cuong-va-cung-co-cac-dao-thuoc-chu-quyen-10939

14b. http://tribunecontentagency.com/article/south-china-sea-who-occupies-what-in-the-spratlys/

Phần II

Thảo luận, đóng góp ý kiến về:  nước sạch – rau xanh

và môi trường các quần đảo tuyến ngoài

Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”. Trong Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2020, kinh tế biển chiếm 55% GDP quốc gia, thu nhập bình quân đầu người vùng biển gấp đôi GDP bình quân của cả nước.1

Tất cả các quốc gia mạnh về biển đều có nền kinh tế đảo phát triển. Ví dụ như Jeju ở Hàn Quốc, Okinawa ở Nhật, Hawai ở Mỹ, Phuket ở Thailand… Với Việt Nam không thể ngoại lệ. Trong kinh tế biển, các quần đảo sẽ phải giữ vai trò vô cùng quan trọng. Không chỉ là tiền đồn của Tổ quốc, các quần đảo còn tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng kinh tế biển.

Về mặt địa lý, có thể chia các huyện đảo thành hai nhóm:

  • Các đảo tuyến ngoài như: quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ,… và Bạch Long Vỹ.
  • Các đảo tuyến trong như Vân Đồn, Cát Hải, Kiên Hải…

Được sự chỉ đạo của các cấp chính quyền ở Trung ương và địa phương, cùng sự chung tay của các tổ chức xã hội đã góp phần hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quản lý 12 huyện đảo, làm thay đổi diện mạo các đảo, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên nhiều huyện đảo vẫn còn khó khăn về điện, đường, trường, trạm, nhất là nước…2 Muốn kinh tế đảo phát triển, trước tiên phải cung cấp đủ nước ngọt cho đảo: nước sinh hoạt, nước cho sản xuất (du lịch, chế biến hải sản); nước cho trồng trọt. Sự gia tăng dân số vừa tạo động lực cho sự phát triển của các đảo, vừa tạo sức ép lên vấn đề thực phẩm, vệ sinh môi trường của đảo.

Trong bài nghiên cứu ngắn, tôi xin trình bày về vấn đề nước sạch (bao gồm cả nước sinh hoạt và nước sản xuất), đồng thời cũng xin chia sẻ một số kinh nghiệm về trồng trọt, và xử lý môi trường trên đảo mà tôi quan sát được từ Hàn Quốc, Nhật Bản.

  1. Cung cấp nước cho sinh hoạt

Hơn hai mươi năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, tiền lực kinh tế đất nước gia tăng rõ rệt. Nhu cầu thăm quan, nghỉ dưỡng của nhân dân ngày càng tăng – nhất là giới trẻ. Biển và đảo là điểm đến ưa thích của hầu hết mọi người. Tuy nhiên, để đảm bảo được chất lượng dịch vụ du lịch, một trong những yếu tố quan trọng nhất là nước sinh hoạt.

Hiện nay, tất cả các đảo đều thiếu nước sinh hoạt. Ngay cả những đảo rộng hàng ngàn ha, có lượng mưa 2000mm/ 1 năm vẫn không đủ nước sinh hoạt cho người dân trên đảo chứ chưa nói đến nước sinh hoạt phục vụ du lịch. Nếu vấn đề “nước sinh hoạt” không sớm tìm ra được lời giải thì tương lai không xa huyện Phú Quốc cũng không đủ nước sinh hoạt.3

Nguồn nước sinh hoạt tại các đảo tiền tiêu như Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Bạch Long Vỹ … phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước ngầm. Do quy mô dân số tăng cộng với việc khai thác một cách tự phát và quá mức đã khiến nguồn nước ngầm suy kiệt và bị ô nhiễm4, 5. Sự biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu làm nước biển dâng, số ngày nắng nhiều hơn, lượng mưa tuy được dự báo sẽ tăng nhưng lại diễn ra cục bộ khiến phần lớn nước mưa sẽ tháo chảy xuống biển trước khi kịp thẩm thấu vào đất. Cho dù chúng ta có cố gắng giữ được mảng xanh trên đảo thì những yếu tố trên cũng làm suy giảm nguồn nước ngầm.6, 6b, 7 Tại quần đảo Trường Sa, trừ đảo Song Tử Tây có nhà máy lọc nước biển với công suất 18 m3/ 1 ngày, hơn ba chục điểm còn lại nhân dân và cán bộ chiến sỹ phụ thuộc hoàn toàn lượng nước mưa dự trữ. Việc lọc nước biển thành nước ngọt để sinh hoạt có chi phí rất cao. Những nước giàu và tự chủ được công nghệ như Singapore, Israel, Nhật Bản … cũng ứng dụng rất hạn chế. Mùa khô năm 2015 – 2016, tại nhiều đảo nổi có diện tích khá lớn ở Trường Sa chiến sỹ hải quân chỉ được phân bổ 3- 5L/ 1 ngày/ 1 người (không kể nước ăn – nước uống).

Nhìn rộng ra, nước sạch sinh hoạt không chỉ là vấn đề riêng của các đảo tuyến ngoài, nó đã và đang trở thành vấn đề quốc gia. Không chỉ riêng Việt Nam, 2/3 các quốc gia trên thế giới được dự báo sẽ phải đối mặt với vấn đề “nước sạch cho sinh họat”. Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển giải quyết bài toán “nước sạch cho sinh hoạt” sẽ giúp ích nhiều cho Việt Nam, đặc biệt là các huyện đảo tuyến ngoài.

1.1 Singapore

Năm 2011, 66% lượng nước sinh hoạt của Singapore phải nhập khẩu từ Malaysia. Giá cả không ổn định khiến chính phủ Singapore luôn đau đầu. Từ đấy, họ đề ra chính sách phát triển nguồn nước sinh hoạt bền vững. Người Singapore có câu hỏi đáp nổi tiếng. “Nước từ đâu ra?” – “nước từ trên trời” (water come from haven). Câu nói trên đã thể hiện tư duy của Singapore.

Hiện nay, Singapore có lẽ là quốc gia có tỷ trọng sử dụng nước mưa cao nhất thế giới. Với lượng mưa trung bình hàng năm 2200mm cung cấp khoảng 40 – 50%(sẽ tăng lên 60% năm 2020) lượng nước sinh hoạt của đảo quốc này.

  • Riêng nước mưa thu được từ mái nhà ga ở sân bay Changi Airportđã đủ cung cấp 33% nhu cầu của sân bay với giá thành rẻ hơn nước hệ thống quốc gia. Giúp sân bay này tiết kiệm 390.000 đô Sing mỗi năm8.Toàn bộ lượng nước mưa thu được từ sân bay lên đến 800.000m3. 8b
  • Những tòa nhà trên 15 tầng đều có hệ thống thu gom nước mưa ($0.25/m3), cung cấp khoảng 13,7% nhu cầu dân cư trong toà nhà với giá thành rẻ hơn giá nước hệ thống quốc gia ($0.33/m3).
  • 742 ha đất nông thôn có 49.000 bể chứa nước mưa, không chỉ cung cấp nước sinh hoạt cho người dân địa phương mà còn bổ sung vào hệ thống quốc gia.

1.2 Pháp

Sân bay Charles de Gaulle – sân bay lớn nhất ở một thủ đô, có mức tiêu thụ nước tương đương một thành phố nhỏ với quy mô 31.000 dân. Năm 2010, công ty SOTRALENTZ bắt đầu lắp hai bình chứa nước mưa. Đến nay, đã có mười bồn chứa như vậy. Tiết kiệm hơn 100.000 ơ-rô do sử dụng nước mưa thay cho nước cấp của thành phố.9

1.3 Nhật Bản

Để tránh tình trạng sụt lún địa chất, từ những năm 1980, người Nhập đã cấm khoan giếng ở các thành phố10. Tư duy của người Nhật: “Tất cả nước sinh hoạt ở các thành phố đều được lấy từ nguồn nước mặt. Nước mặt bao gồm nước: ao, hồ, sông, suối do mưa hình thành. Vậy tại sao ko thu giữ nước mưa để dùng?”

Trận động đất và sóng thần năm 2011 khiến hệ thống cấp nước bị phá hủy, nước mặt và cả nước mưa cũng bị nghi ngờ nhiễm phóng xạ. Bấy giờ, vai trò của các bồn chứa nước mưa phát huy tác dụng. Thành phố Tokyo là nơi đầu tiên có chính sách hỗ trợ người dân lắp đắt hệ thống chứa nước mưa. Với loại bình chứa 1000L, thành phố sẽ hỗ trợ một nửa chi phí, bao gồm cả phí lắp đặt.Việc lắp đặt hệ thống thu giữ nước mưa không chỉ giúp thành phố tiết kiệm chi phí mở rộng nhà máy nước mà còn hỗ trợ chống ngập – lụt đô thị. Chỉ trong năm 2011, 179 bình chứa loại 1000L đã được lắp đặt ở Tokyo.11 Tiếp sau Tokyo là Oita, thành phố này đã chi ngân sách 2.1 triệu yên năm 2011 và tăng lên 2.6 triệu yên năm 2012 để hỗ trợ 50% tài chính giúp người dân lắp đặt hệ thống chứa nước mưa. Năm 2013, số lượng người có nhu cầu tăng vọt khiến thành phố phải hủy bỏ việc hỗ trợ tiền. Thay vào đấy là chính sách hỗ trợ kỹ thuật.

Thực ra, từ những năm 198x, chính phủ Nhật đã xây dựng nhiều công trình chứa nước mưa phục vụ mục đích cộng đồng. Rất nhiều hệ thống thu giữ nước mưa được xây dựng ngầm dưới các quảng trường, trong đền thờ, nhà hát, rạp chiếu phim …

Những tính toán khoa học của Nhật Bản cho thấy sau khi trừ đi hao phí súc rửa thiết bị hàng năm, mức độ thu giữ nước mưa thường chỉ đạt 80 % so với lý thuyết. Đây là con số cần lưu ý để tính toán thiết bị khi lắp đặt.12

1.4 Hoa Kỳ

Hơn 250,000 hộ gia đình có hệ thống bồn chứa nước mưa13. Cựu tổng thống Bush lúc đương chức là người quyết liệt chống lại nghị định thư Kyoto, nhưng gia đình ông lại có một hệ thống chứa nước mưa được xem là kiểu mẫu với hồ bơi và hồ tưới tiêu cho trang trại rộng lớn bằng nguồn nước mưa lưu giữ.14

  • Tại thị trấn Tucson bang Arizona, 600 hệ thống chứa nước mưa đã được các hộ gia đình xây dựng, thành phố hỗ trợ 2000 usd/ 1 hệ thống.13b
  • Theo quy định về bảo vệ môi trường của chính phủ liên bang, các trường học xây mới thuộc các đảo ở Caribbean đều có hệ thống bể chứa nước mưa.
  • Tại thành phố Thomas (dài 19km *rộng 3. km) trên đảo Virgin15, mỗi một hộ gia đình bắt buộc phải xây một hồ chứa nước mưa 45m3.
  • Hawai là một đảo lớn có căn cứ quân sự quan trọng của Hoa Kỳ, chắc hẳn hệ thống cấp nước sinh hoạt, cấp điện vô cùng hiện đại. Thế nhưng ngay trong công viên quốc gia Volcano, một bể chứa nước mưa 3800 m3 bằng xi măng cùng 18 bể chứa mỗi bể có kích thước 95 m3 được xây dựng đáp ứng nhu cầu cho 10.000 khách du lịch mỗi ngày. Lượng nước mưa được tận thu từ 4000 m2 mái nhà cùng 2ha đất rừng.

1.5 Thái Lan

Vào năm 1985, hơn mười triệu lu chứa nước loại 2m3 đã được người dân sử dụng ở những tỉnh Đông Bắc.16 Ngày nay, những gia đình giàu có vẫn sử dụng nước mưa để ăn uống. Tập quán dùng nước mưa để ăn của người dân Thái giống với tập quán của người Việt.

1.6 Xứ Wale

Nhiều bồn chứa nước mưa có kích thước “khổng lồ” được xây dựng để dùng vào mục đích công cộng.

Bồn chứa nước mưa 260m3 dùng cho mục đích công cộng

1.7 Văn hóa sử dụng nước mưa ở Việt Nam

Văn hóa dùng nước mưa đã có từ lâu đời ở Việt Nam. Tại tỉnh Thái Bình, khi tôi còn nhỏ nhà nào cũng có bể nước mưa. Nhà ông nội tôi cũng có 2 bể. Nước mưa đủ dùng cho cả năm. Dù nước giếng khơi những năm 1990 rất sạch, nhưng các gia đình chỉ dùng nước giếng để sinh họat, giặt giũ và tắm rửa.

Hè năm 1995 khi tôi sống ở Năm Căn – Cà Mau, theo ký ức của tôi, đơn vị nơi bố tôi công tác cũng dùng nước mưa để ăn uống. Nước sông sau khi được đánh phèn dùng để tắm rửa. Năm 2004, 2005, 2006 khi tôi đi Mùa hè xanh ở Trà Vinh, các gia đình ở huyện Cầu Kè cũng dùng nước mưa để ăn uống. Trung bình mỗi gia đình 5 người trang bị 7 – 10 lu chứa nước mưa loại 100L/1lu. Một số nơi bên Vĩnh Long, Bến Tre người dân cũng dùng nước mưa để ăn uống.

Sau 2010, khi hệ thống cấp nước sạch của nhà nước về đến xã, ấp thì phong trào dùng nước mưa không còn phổ biến. Lý do là dùng nước mưa người dân phải tiến hành súc rửa lu chứa, cọ rửa máng dẫn, quét mái nhà (nhiều nơi ở ĐB SCL người dân không đun nước mưa mà uống trực tiếp từ lu).

Thế nhưng chỉ được vài năm thì hạn hán vào mùa khô diễn ra trên diện rộng. Mùa khô những năm 2014, 2015 người dân phải mua nước máy với giá rất đắt về đổ vào lu chứa. Tôi có trao đổi với một số người nhà ở Bến Tre thì được biết từ khi nước máy của tỉnh về tận nhà, cộng với kinh tế khá giả đã khiến họ không còn thói quen dùng nước tiết kiệm. “khi xưa chỉ 10 cái lu mà xài cả mùa khô, bây giờ chỉ xài được một tháng”. Giá nước mùa khô mua bằng xe bồn rất đắt.

Sau đợt hạn năm 2014, nhiều gia đình ở Bến Tre đã quay lại dùng nước mưa để sinh hoạt trong mùa khô. Những gia đình xây bể chứa nước mưa năm 2014 đã thấy rõ hiệu quả ngay từ mùa khô năm 2015 – 2016. Huyện Mỏ Cày – Bến Tre dự kiến sẽ hỗ trợ 34.000 hộ gia đình từ nay đến 2020 xây dựng bể chứa nước mưa. 16 Huyện cũng đề nghị ngân hàng chính sách hỗ trợ 2,5 tỷ/ năm cho các gia đình khó khăn xây bể chứa nước mưa loại 2m3.

Điểm qua kinh nghiệm nhiều nơi trên thế giới cho chúng ta một số kết luận sau:

  1. Sử dụng nước mưa để sinh hoạt là xu hướng đã diễn ra trên thế giới. Từ những nước giàu như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, Singapore, xứ Wale… đến các nước chưa giàu như Thái Lan, Braxin, Việt Nam. Xu hướng này chắc chắn gia tăng thời gian tới do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
  2. Các lãnh thổ hải đảo như Virgin, Caribbean, Singapore, Hawai … rất xem trọng việc dùng nước mưa thay thế nước ngầm.
  3. Ngay tại quốc gia có chi phí đắt đỏ như Singapore, dùng nước mưa vẫn tiết kiệm hơn nước máy.
  4. Do ngày nay công nghệ chế tạo bồn chứa đơn giản, rẻ tiền. Nhiều nơi, ví dụ Braxin, hay châu Phi, người dân dùng loại cống D2000 có dung tích lên đến 5500L được đúc công nghiệp – rất bền, đẹp, gọn gàng. Chi phí chỉ bằng một nửa bồn nhựa, bằng 1/3 bồn inox.

1.8. Đề xuất giải pháp tối ưu cho các đảo tuyến ngoài

1.8.1 Với hộ gia đình các huyện đảo tiền tiêu như: Phú Quý, Lý Sơn, Côn Đảo, huyện đảo thanh niên Bạch Long Vỹ …

Mô hình huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre, Nhật Bản và Hoa Kỳ rất đáng được quan tâm. Các huyện đảo đông dân như Phú Quý, Lý Sơn, Côn Đảo không nên tăng khai thác nước ngầm mà nên gia tăng lượng nước mưa dự trữ.

Tính toán mô hình ở Phú Qúy:

  • Một gia đình 6 nhân khẩu, có một mái nhà 50m2.
  • Tính toán như người Nhật, lượng nước mưa có thể hứng được là 80%,
  • Lượng mưa hàng năm 1300 mm như ở đảo Phú Qúy18d. (một trong những đảo có lượng mưa ít nhất cả nước)
  • Tổng lượng mưa có thể hứng được = 50*0.8*1.3 = 52 m3
  • Đặt giả sử mỗi tháng mùa mưa gia đình dùng hết 6m3.

Như vậy cần bồn dự trữ 52 – 6*6 = 16 m3

Gia đình có điều kiện dễ dàng xây được hai bể 2*2*2.5 m = 10m3/ 1 bể. Những gia đình chưa có điều kiện xây trước một bể. (chính diện tích mặt bể cũng có thể tận thu nước mưa)

Nhà nước hỗ trợ công nghệ và vốn. Giả sử hỗ trợ 0.5tr/1m3, với bể  10m3, nhà nước cần hỗ trợ 5tr. Đặt giả sử cả huyện đảo Phú Quý, nhà nào cũng xây 1 bể chứa nước mưa loại 10m3, cả huyện đảo Phú Quý có 5670 hộ gia đình, số tiền ngân sách huyện phải chi trả là 5670*5tr VNĐ = 28,350 tỷ đồng (hai mươi tám tỷ ba trăm triệu). Một số tiền không quá lớn nếu được chia ra trong 3 năm.

Đặt giả sử 1m3 nước sạch có giá 10.000 vnđ, việc tận dụng được 52m3/ 1 năm giúp gia đình tiết kiệm được 520.000 vnđ tiền nước. Quan trọng hơn, nó góp phần giữ gìn mạch nước ngầm và môi trường đảo cho các thế hệ sau. Đồng thời việc dùng nước dự trữ sẽ nâng cao ý thức tiết kiệm nước sạch trong cộng đồng.

Nếu toàn huyện Phú Qúy, nhà nào cũng có một bể nước mưa 10m3 thì mùa khô toàn huyện có 56.700m3 nước sạch để dùng. Một con số rất lớn nếu biết rằng công suất khai thác hiện tại của các giếng khoan tại Nhà máy nước Phú Quý680 m3/ngày.18b

Đối với các trường học, công sở, sân bay trên các đảo là nơi có diện tích mái nhà lớn. Cần nghiên cứu xây bể chứa nước mưa như quy định của Hoa Kỳ với các đảo ở Caribbean.

Mô hình trạm cấp nước cộng đồng nhỏ của Smet, J. và Wijk, C. van (2002)

Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam hỗ trợ các gia đình có công với cách mạng trên huyện đảo tiền tiêu xây bể chứa nước mưa. Việc xây dựng bể chứa nước mưa có thể là một điểm nhấn mới cho phong trào tình nguyện của thanh niên – sinh viên.

Bể chứa nước mưa của một gia đình ở Bắc Bộ

Theo báo Ấp Bắc, chi phí xây 4 bể chứa nước mưa với tổng dung tích 10m3 ở Tiền Giang hết 8 triệu VNĐ.18c Như vậy chi phí xây bể chứa ở các đảo tiền tiêu có thể vào khoảng 12tr/ một bể.

Mô hình bể chứa nước mưa hình trụ xây bằng bê tông ở Brazin

Bể nước mưa phổ biến ở Kenya

Một câu hỏi tế nhị được đặt ra là: xây dựng hệ thống lưu trữ nước mưa, về mùa mưa các gia đình có thể sử dụng gần như hoàn toàn bằng nước mưa. Vậy lợi ích kinh tế của các công ty cấp nước có bị ảnh hưởng ?!

Tôi cho rằng không! Vì mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa cao điểm du lịch biển. Công suất dư thừa của nhà máy nước vào muà mưa có thể bổ sung cho các ngành dịch vụ. Bên cạnh đấy, việc tích nước mưa dùng cho mùa khô còn góp phần giúp kinh tế địa phương phát triển khi mùa khô các đảo có một nguồn nước sạch dự trữ.

1.8.2 Huyện đảo Trường Sa

Hiện nay, trừ đảo Trường Sa có giếng nước ngầm có thể dùng để rửa bát, tắm giặt và đảo Song Tử Tây có nhà máy lọc nước biển với công suất 18m3/ 1 ngày. Toàn bộ người dân và các chiến sỹ bộ đội đóng quân trên đảo chỉ dùng nước mưa dự trữ để sinh hoạt. Mặc dù lượng mưa trung bình hàng năm rất lớn – trên 2500mm19. Nhưng do hai muà mưa nắng rõ rệt, nên mùa khô các chiến sỹ rất thiếu nước ngọt để sinh hoạt và tăng gia sản xuất.

Theo tìm hiểu của tôi, tại đảo C trong cụm đảo trung tâm, một phân đội chỉ có 18m3 cho 6 tháng mùa khô (2 bể 4m3 + 4 téc chiến đấu ). Điều ấy cho thấy số lượng bình chứa nước mưa ở đảo chưa đủ. Đôi khi phương pháp hứng nước còn thủ công, thô sơ dẫn đến hiệu quả chưa cao.

Hình ảnh chiến sỹ công binh hứng nước mưa ở đảo E-TS

Ví dụ đảo Sơn Ca.

Tổng diện tích các mái nhà vào khoảng 3000m2

Giả sử lượng mưa 2200mm/1 năm. (tương đương lượng mưa mùa mưa 2015)

Hiệu suất hứng nước 0,8

  • V = 3000*2.2*0.8 = 5280m3

Một nửa lượng nước được dùng để dành cho 6 tháng mùa khô, như vậy chúng ta cần một hệ thống chứa vào khoảng 2500m3. Với 2500m3, nếu dùng 100m3 tiếp tế cho đảo nhỏ Đá Thị gần đấy, Sơn Ca vẫn còn 2400m3/6 tháng = 400m3/ 1 tháng. Một lượng nước tương đối lớn, đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt của 400 – 500 người.

Như vậy có thể khẳng định tình trạng thiếu nước ở nhiều đảo thuộc huyện Trường Sa bắt nguồn từ tình trạnh thiếu bồn chứa.

1.9 Thu giữ nước mưa từ khu vực bê tông hóa

Nếu có thể thu giữ nước mưa từ đường băng sân bay, từ sân trường học, sân ủy ban, hay từ đường đi, vỉa hè … thì lượng nước hứng được là vô cùng lớn. Lấy ví dụ nếu đường băng trên thị trấn Trường Sa được đầu tư hai rãnh hứng nước bao quanh, thì lượng nước hàng năm thu được là:

1000m dài * 30m rộng * 2200mm* hiệu suất 80% = 52,800 m3

Đây là một lượng nước khổng lồ. Chính sân bay Changji ở Singapore, sân bay trên đảo Okinawa của Nhật, sân bay Đài Loan xây dựng trái phép trên đảo Ba Bình đều sử dụng hệ thống này.

Ưu điểm: của phương pháp này là thu giữ được một lượng lớn nước mưa. Ngay cả các thảm cỏ cũng được đặt miệng hút nước. Rãnh hút nước và rãnh dẫn nước  chỉ cần đặt nông, bể ngầm với mục đích lắng cặn có dung tích nhỏ.

Nhược điểm: bể chứa nổi dung tích càng to thì chi phí càng lớn. Khi dung tích chứa lên đến vài trăm m3, phương pháp xây hồ lót bạt trở nên hiệu quả kinh tế hơn. Phương pháp xây hồ trữ nước mưa trở lên cực kỳ ưu việt trong nông nghiệp. Vấn đề này xin đề cập ở phần sau.

Tại các nơi công cộng như trường học, công sở, sân bay, doanh trại quân đội cần nghiên cứu thu hồi nước mưa từ mặt sân bê tông. Trước mắt là phục vụ cho nhu cầu hành chính công vụ. Khi vào mùa khô sẽ hình thành các điểm phát nước sạch theo định mức cho người dân. Đây chính là công việc thiết thực để xây dựng hình ảnh chế độ ta.

1.10 Đập ngầm ngăn mặn – tích nước mưa ở đảo (Miyakojima, Okinawoa – Nhật Bản, Jeju – Hàn Quốc…)

Phương pháp không mới, đã được áp dụng nhiều ở các nước châu Phi và Braxin. Khả năng giữ nước mưa rất tốt, thi công đơn giản ở quy mô trang trại hoặc hộ gia đình. Nhưng khi người Hàn và người Nhật thi công ở quy mô hàng ngàn ha thì đòi hỏi tâm can trong sáng. Vì mọi thứ đều dưới lòng đất, lại là đầu tư công nên khó kiểm soát chất lượng. Tuy nhiên, theo tính toán của cá nhân tôi, đối phó với tình trạng nước biển dâng, nếu muốn duy trì các giếng khoan nước ngọt tại Côn Đảo, Phú Qúy … sớm muộn gì Việt Nam cũng phải xây những con đập ngầm ngăn mặn – tích nước mưa18d. Trước đây, để xây dựng lên vương triều Lý – Trần – Lê hùng cường ở Miền Bắc, cha ông ta phải xây đê sông Hồng rồi đến đê Thái Bình. Để khai hoang Nam bộ, các chúa Nguyễn phải đào kênh Vĩnh Tế, kênh Chợ Gạo… sau này Đảng ta tiếp tục đào kênh T4 – 5 – 6 để biến miền Nam thành vựa lúa gạo xuất khẩu lớn nhất nhì thế giới. Tôi tin rằng, để Phú Quốc, Phú Qúy và Côn Đảo phát triển như Okinawa, Jeju thì việc xây dựng “đập ngầm ngăn mặn” là bắt buộc. Tuy nhiên, vấn đề quá chuyên sâu và vỹ mô, tôi xin chia sẻ trong dịp khác.

Đập ngầm ngăn mặn – trữ nước mưa ở đảo Miyakojima – Nhật Bản

  1. 11 Kết luận
  • Sử dụng nước mưa để sinh hoạt là xu hướng chung không chỉ của Việt Nam, đó là xu thế của cả nhân loại. Đặc biệt với hải đảo. Đây là phương pháp bền vững, thân thiện với môi trường.
  • Xây dựng các bể chứa nhỏ ở quy mô hộ gia đình vừa dễ dàng, tiện dụng. Hiệu quả kinh tế tăng theo thời gian khi biến đổi khí hậu khiến mùa khô ngày càng khắc nghiệt, nhưng lượng mưa hàng năm lại tăng.
  • Với vai trò là tổ chức tập hợp thanh niên xung kích, tôi kiến nghị Trung ương Hội Liên hiệp thanh Niên Việt Nam đưa chương trình “xây tặng bể nước mưa cho gia đình chính sách có công với cách mạng đang sống trên các đảo tiền tiêu của tổ quốc” là một nội dung hoạt động của Hội.
  • Với quần đảo Trường Sa, trong khả năng của Hội, tôi kiến Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam mỗi tỉnh tặng quần đảo Trường Sa một bồn chứa nước. Giá trị không quá cao, nhưng vô cùng thiết thực. Thể hiện sự chung tay góp sức cùng Đảng và nhà nước xây dựng Trường Sa lớn mạnh.
  • Kiến nghị cơ quan chức năng nghiên cứu lắp đặt hệ thống thu gom nước mưa trên mặt sân trường học, công sở, chùa chiền, mặt đường băng sân bay. Biến mỗi một công sở thành một điểm cấp nước công cộng vào mùa hạn. Đây không chỉ là vấn đề hỗ trợ nước sạch cho người khó khăn, mà còn là hình ảnh của chế độ ta. Mô hình như thế này hoàng gia Thái Lan đang áp dụng rất thành công ở các tỉnh Đông Bắc của Thái Lan.

Hình ảnh thực tế mặt sân trường Sogang với hệ thống thu giữ nước mưa và hệ thống tiêu nước khi mưa.

 

 

 

 

 

  1. 12Tài liệu tham khảo:
  2. http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/lich-su-dang/doc-4930201511335746.html
  3. 2. http://bienphongvietnam.vn/nghien-cuu-trao-doi/thong-tin-tu-lieu/850-dd.html
  4. http://www.vietnamplus.vn/huyen-dao-phu-quoc-thieu-nuoc-tuoi-tieu-va-nuoc-sinh-hoat-cuc-bo/380273.vnp

4.http://www.antv.gov.vn/tin-tuc/xa-hoi/con-dao-khat-nuoc-ngot-187835.html

5.http://nuocnongthonbinhthuan.vn/2015/Dao%20Phu%20Quy%20co%20the%20thieu%20nuoc%20sinh%20hoat%20trong%20vai%20nam%20toi.aspx

6.http://thegioimoitruong.vn/tin-tuc/2593/binh-thuan-nuoc-man-xam-thuc-dan-dao-khat-nuoc.html

6b.http://www.vjol.info/index.php/DHTL/article/viewFile/12421/11331

7.http://www.imh.ac.vn/tin-tuc/cat14/377/Cap-nhat-kich-ban-bien-doi-khi-hau-va-nuoc-bien-dang-cho-Viet-Nam

8.http://www.rainwaterharvesting.org/international/singapore.htm

8b.https://web.archive.org/web/20090627092606/http://www.straitstimes.com/Breaking+News/Singapore/Story/STIStory_394640.html

9.http://www.sotralentz.com/index.php/en/sotralentz/news-sotralentz/101-rainwater-harvesting-construction-site-at-paris-airport

  1. Hiện nay nhiều địa phương ở Việt Nam, tình trạng sụt lún diễn ra trên diện rộng. Nguyên nhân là tình trạng khai thác nước ngầm quá mức cho phép.

11.http://www.city.kyoto.lg.jp/suido/page/0000186980.html

  1. http://www.japanfs.org/en/news/archives/news_id027756.html

http://www.japanfs.org/en/news/archives/news_id035023.html

13.http://www.lboro.ac.uk/well/resources/fact-sheets/fact-sheets-htm/drh.htm

13b.http://www.hcn.org/issues/47.7/tucsons-rain-catching-revolution

14.http://eva.vn/nha-dep/chon-duong-gia-yen-binh-cua-tong-thong-g-bush-c169a187024.html

15.http://www.unep.or.jp/ietc/publications/urban/urbanenv-2/9.asp

16http://www.baodongkhoi.com.vn/?act=detail&id=50160

17.http://congbetongducsan.com/cong-tron-d2000

18.http://www.baobinhthuan.com.vn/doi-song/dao-phu-quy-co-the-thieu-nuoc-sinh-hoat-trong-vai-nam-toi-74804.html

18b.http://www.baobinhthuan.com.vn/vi-vn/print.aspx?id=74280

18c.http://baoapbac.vn/xa-hoi/201601/huyen-go-cong-dong-nguoi-dan-va-nha-nuoc-cung-chu-dong-nuoc-sinh-hoat-655537/

18d.http://text.123doc.org/document/2769530-nghien-cuu-anh-huong-cua-xam-nhap-man-den-tai-nguyen-nuoc-ngam-cua-dao-phu-quy-tinh-binh-thuan-va-de-xuat-bien-phap-giam-thieu.htm

19.http://tapchiqptd.vn/zh/bien-dao-viet-nam/vi-tri-dia-ly-va-dieu-kien-tu-nhien-cua-quan-dao-truong-sa/8320.html

  1. Cung cấp nước cho trồng trọt

Dân gian có câu: nhất nước, nhì phân. Điều ấy cho thấy, trước khi bàn về trồng rau, phải bàn về nguồn nước. Nước dùng cho trồng trọt ở các huyện đảo tuyến ngoài chủ yếu là nước ngầm1 (trừ huyện Trường Sa). Với dân số ngày càng tăng khiến cho nhu cầu nước sinh hoạt càng nhiều. Nếu đẩy mạnh quá trình tăng gia sản xuất rau xanh bằng nguồn nước ngầm sẽ dẫn đến xung đột nhu cầu, thúc đẩy sự cạn kiệt nguồn nước ngầm. Nhẹ thì ô nhiễm nguồn nước, nặng thì sụt lún địa chất.

Cũng như nước cho sinh hoạt, xu thế hiện nay trên thế giới là gia tăng lưu giữ nước mưa để trồng trọt. Ví dụ:

2.1 Mô hình Ấn Độ2.

Bang Kadavanchi – Ấn Độ, 300 làng đã có hồ chứa nước mưa nhân tạo đem lại hiểu quả rõ rệt. Mỗi một hồ nước có sức chứa 15,000 m3 có thể cung cấp đủ nước cho 25.5 ha đất trồng nho. Như vậy, nếu tính trung bình mỗi hồ sâu 3m, người dân chỉ cần 5000 m2 đất để đào hồ chứa nước. Lượng mưa trung bình của bang Kadavanchi vào khoảng 700mm mỗi năm. Năm 2012, lượng mưa chưa đến 200 mm, nhưng vẫn đủ để duy trì vườn nho và cho thu hoạch mùa vụ dù năng suất có suy giảm 30% nhưng giá cả tăng vọt do hạn hán diện rộng.

Các hộ ít đất hơn có thể làm những chiếc ao nhỏ với kích cỡ chỉ khoảng  5 x 4 x 1.5 m. Người Ấn Độ gọi nó là Jalkund – Với những khu vực có mùa khô ngắn trong 3 tháng (trùng với mùa Đông), một Jalkund có thể cung cấp đủ nước tưới cho một vườn rau khoảng 1000 m

2.2 Vương Quốc Anh

Tại công viên quốc gia, người ta xây dựng những hồ chứa nước mưa bằng bạt HDPE dùng để tưới hoa và cỏ trong công viên. Nhiều gia đình tại quốc đảo này cũng xây những hồ chứa nước mưa như vậy để tưới tiêu cho nông nghiệp.

Phương pháp thi công đơn giản. Đặc biệt, người Anh thường xếp một vành đá quanh hồ. Vành đá này vừa cố định bạt, vừa như một màng lọc, ngăn lá cây, cành cây trôi xuống hồ nước.

2.3 Ninh Thuận

Địa phương chịu hạn nặng nhất cả nước, người dân cũng xây những bể chứa nước mưa bằng vật liệu HDPE. Theo quảng cáo của nhà thầu, thời gian thi công và chi phí lắp đặt hồ chứa nước mưa để phục vụ tưới tiêu chỉ bằng 1/10 so với hồ chứa xây bằng bê tông, bằng ¼ so với hồ chứa xây bằng gạch.

2.4 Hàn Quốc

Các khách sạn lớn của Hàn Quốc thường có hồ chứa nước thải sinh hoạt, và cũng chính là hồ sinh cảnh của khách sạn. Nước thải sinh hoạt sau khi vượt qua ba ngăn của bể phốt tự hoại sẽ chảy qua khu vườn lau, sau đó ra một hồ hở. Nước từ hồ này được dùng để tưới cây. Để nước ra hồ chứa đủ sạch thì bể phốt cần có thiết kế đủ lớn để chất thải lên men, phân huỷ. Tại hồ sinh cảnh thường trồng sen. Đây cũng là phương pháp xử lý chất thải hữu cơ trong nước theo phương pháp thân thiện với môi trường. Các cây lau, sậy sẽ hấp thụ chất hữu cơ, làm sạch nước.

2.5 Giải pháp đề xuất để bổ sung nguồn nước trồng cây cho các đảo tuyến ngoài

– Hướng dẫn, khuyến khích, hỗ trợ người dân tạo các ao nhỏ chứa nước mưa. Từ xưa đến nay, VAC đã là mô hình chuẩn của nông nghiệp. Ở đảo, do địa chất cát pha, nên không dễ dàng đào ao tự nhiên. Nhưng công nghệ hiện đại có thể hỗ trợ điều ấy.

Để gia tăng hiệu suất sử dụng đất, các ao thả thêm cá rô phi, cá trê (người dân vẫn nuôi tôm trên cát bằng các ao nuôi lót bạt). Để giảm thiểu việc thoát hơi nước do bức xạ mặt trời, người dân có thể bác giàn mướp hay giàn bầu phiá trên.

– Tận thu nước thải sinh hoạt để tưới tiêu.

Nước thải sinh hoạt giàu đạm và phốt-pho, rất tốt để tưới cây ăn trái. Tại đảo Jeju, các vườn quýt bạt ngàn triũ quả được tưới bằng nước thải sinh hoạt từ các khu nhà nghỉ ven biển.

– Với Trường Sa, ngay cả diện tích trồng rau cũng nên được tận dụng để hứng nước mưa. Nước mưa sau khi dùng để sinh hoạt thì tận thu đem tưới rau. Lấy ví dụ một mảnh đất 10m2/ 1 phân đội. Nếu được căng bạt tận thu nước mưa sẽ cung cấp cho cán bộ, chiến sỹ ít nhất 15 – 18m3 nước sạch.

2.6 Tài liệu tham khảo:

1.https://www.youtube.com/watch?v=NoM6zzza980

2.http://www.ndtv.com/india-news

  1. 3. Bảo vệ môi trường các đảo

3.1 Bảo vệ môi trường vùng nước quanh đảo

Với vùng biển ráp ranh lấy bán kính 3 hải lý, nhà nước cần phải kiêm quyết bảo vệ bằng được rặng san hô bao quanh đảo. Kiên định hạn chế khai thác hải sản quy mô lớn trong bán kính 3 hải lý. Chính rặng san hô bao quanh đảo là bờ kè tự nhiên giúp đảo chống sạt lở. Sau vài năm nữa, khi du lịch các đảo bùng nổ, chính các rặng san hô là tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban tặng để phát triển du lịch1b– điều mà Jêju không có.

Trong khi cả nước chung tay “góp đá xây Trường Sa” thì gần đây một bộ phận ngư dân lại chuyển sang nghề khai thác san hô và vỏ sò tai tượng1. Thực sự rất đau lòng! Các chiến sỹ đóng quân trên quần đảo Trường Sa cũng cần gương mẫu. Quá trình xây dựng đảo, đào được vỏ sò tai tượng hay cổ vật có kích thước lớn nên giao lại cho bảo tàng làm mẫu vật trưng bày. Cạnh mẫu vật trưng bày cần ghi ngắn gọn về tên, vị trí công tác người cung tiến.

Hầu như tất cả các tàu đánh cá và tàu công vụ đều thải trực tiếp rác sinh hoạt xuống biển. Với rác hữu cơ có thể tạm chấp nhận. Nhưng túi ni-lông, lon nhựa thì không nên. Hiện nay, các đảo tuyến ngoài nằm gần tuyến hằng hải như Côn Đảo, Phú Qúy, Cù Lao Chàm … có nguy cơ thành bãi rác đại dương2.

3.2 Bảo vệ môi trường trên đảo.

3.2.1 Nước thải sinh hoạt

Do dân số tăng nhanh, mặc dù các gia đình trên đảo hầu như đã sử dụng nhà vệ sinh tự hoại (ở Trường Sa cũng bắt đầu trang bị nhà vệ sinh tự hoại). Nhưng nước xám thải ra từ nhà vệ sinh tự hoại vẫn tồn dư rất lớn lượng hữu cơ hoà tan. Hầu như nước thải từ nhà vệ sinh tự hoại ngấm trực tiếp xuống đất gây ô nhiễm Amoni3. Trong khi các chất hữu cơ hoà tan lại rất cần thiết cho cây trồng. Tận thu nước thải sinh hoạt từ bể phốt tự hoại vừa tiết kiệm nước tưới, phân bón, vừa bảo vệ môi trường.

Gia đình tôi 5 người, lượng nước thải từ bể phốt đủ dùng để tưới một vườn cây ăn trái nhỏ và ba giàn rau leo chữ A: hai khoai lang, một mướp đắng. Đến nay chưa một lần phải bón bổ sung phân.

3.2.2 Chất thải sinh hoạt

Dân số tăng nhanh khiến cho lượng rác sinh hoạt cũng tăng mạnh. Nguồn rác này vừa là áp lực cho môi trường ở đảo nhưng lại rất hữu ích nếu biết cách dùng.

Lực lượng thanh niên cần đi tiên phong trong việc tuyên truyền và thực hiện việc phân loại rác. Tất cả các nước phát triển rác đều được phân loại. Do quy mô dân số, diện tích các đảo nhỏ nên việc thực hiện phân loại rác có thể tiến hành thành công. Ngược lại nếu không tiến hành phân loại rác, tất cả đem đi chôn thì chỉ sau vài năm phát triển du lịch sẽ không có đất để làm bãi rác.

  • Với rác nilông, nhựa … làm nguyên liệu lò đốt để sản xuất điện ở quy mô nhỏ vào những lúc du lịch cao điểm.
  • Với rác hữu cơ, tiến hành xử lý bằng biện pháp thân thiện với môi trường. Đây chính là nguồn phân bón hữu cơ phục vụ cho trồng trọt trên đảo.

Nhiều người biết đến bãi lau trong công viên Bầu Trời ở Seoul. Nhưng ít ai biết rằng đây là bãi chôn lấp rác của thành phố Seoul trước năm 1998. Và hiện nay, nó là khu vực xử lý nước thải sinh hoạt cho toàn bộ các nhà vệ sinh công cộng xung quanh.7b

3.2.3. Chất thải chăn nuôi

Quy mô dân số tăng cộng với tập quán ăn uống của người Việt cùng nhu cầu cho du lịch sẽ tạo động lực cho ngành chăn nuôi ở các đảo.

  • Không nên phát triển đàn gia súc lớn như trâu, bò.
  • Chăn nuôi lợn, gà quy mô vừa phải có nhiều lợi thế.

Nước rửa chuồng trại không nên “tống” thẳng xuống biển hay cho ngấm vào đất như nhiều nơi đang làm. Qua tìm hiểu kinh nghiệm từ nhiều trang trại nuôi lợn ở miền Tây cũng như trại lợn ở Hàn, tôi thấy họ có cách xử lý rất hay, có thể áp dụng cho các đảo:

  • Phân được thu gom ủ với rác hữu cơ để phục vụ trồng trọt. (trên 50 con có thể làm hầm biogas)
  • Nước rửa chuồng trại được dẫn chảy vào hồ trồng lục bình.
  • Từ hồ lục bình, nước được đưa ra vườn trồng rau. Với cùng giống cải, rau muống đưa từ Việt Nam sang nhưng sinh trưởng cực kỳ tốt dù không phải bón bất kỳ loại phân hoá học nào. Kích thước rau cải xanh có thể đạt đến 3 cây/ 1kg, cải muối dưa có thể đạt 2kg/ 1 cây.
  • Ở Hàn, lục bình sẽ được băm nhỏ để ủ phân. Ở Việt Nam, lục bình được chặt rễ đem phủ gốc cây ăn trái, phần thân và lá làm thức ăn chăn nuôi. (Hàn Quốc vốn dĩ không có lục bình, nên khả năng mô hình này được “nhập khẩu” từ Việt Nam là rất cao)

Nghiên cứu của Đại Học Cần Thơ năm 2004 cho thấy các ao tiếp nhận nước thải từ chăn nuôi heo sinh khối tươi của Lục Bình đạt từ 470 – 488 tấn/hanăm, sau xử lý bằng ao Lục Bình đạt tiêu chuẩn để thải vào nguồn nước loại A8.

Như vậy, một 100m2 ao lục bình cũng có thể tạo ra gần 5 tấn lục bình tươi, ít nhất 3 tấn có thể dùng làm thức ăn xanh cho gà, lợn trên đảo, và 2 tấn rễ được dùng làm phân bón trồng rau.

Đây cũng là phương pháp xử lý nước thải chăn nuôi theo chuẩn “xanh” đang áp dụng ở Quảng Đông – Trung Quốc. Lục bình còn được dùng ở Hoa Kỳ, Hà Lan, Úc … để làm sạch các dòng sông nhỏ. Kinh nghiệm từ đại học Georgia – Hoa Kỳ cho thấy chúng ta có thể làm sạch các ao hồ, kênh rạch bằng lục bình.9

Hệ thống xử lý nước thải bằng lục bình ở KCN Chengdu – Côn Minh10

3.2.4 Rác thải từ cây xanh tạo bóng mát

Các đảo cần trồng nhiều cây xanh để giảm bức xạ mặt trời vào buổi trưa, tạo cảnh quan và cải tạo đất. Nhưng cây cối cần phải cắt tỉa đầu mùa giông lốc và trước cơn bão.Cành cây, lá cây nếu bị chất thành đống để mục rữa sẽ tạo môi trường sống cho các loại côn trùng gây hại. Nên tận thu làm phân bón.

 3.3 Côn trùng gây hại

Các đảo ở Trường Sa có rất nhiều ruồi. Điều ấy cho thấy chất thải hữu cơ chưa được thu gom kỹ, tạo nguồn thức ăn và nơi sinh sống cho ruồi. Ở Đông Nam Bộ, nhiều gia đình sử dụng các loại bẫy diệt ruồi đơn giản như sau:

– Đường vàng, giấm ăn, men bột nở và nước lọc trộn lẫn với nhau theo tỷ lệ nhất định. Ủ trong chai nhựa đậy kín 3 ngày. Gia đình tôi dùng ruột cá, mực … cho hiệu quả rất cao.

– Bẫy diệt làm như hình vẽ. Ruồi được làm thức ăn cho gà hoặc chim cảnh.

  1. 4 Tài liệu tham khảo:

1.http://thanhnien.vn/thoi-su/khoet-da-truong-sa-ky-1-bo-bat-ca-de-vot-vo-so-753923.html

1b.http://sggp.org.vn/dulichkhampha/2016/10/438306/

2.http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20151228/con-dao-nguy-co-thanh-bai-rac-dai-duong/1028323.html

  1. Đề cương truyên truyền bảo vệ nguồn nước của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Ban tuyên giáo Tỉnh Ủy, số 222, ngày 6 tháng 4 năm 2016

4.http://www.unep.org/yearbook/2003/fig40.htm

5.http://www.abc.net.au/news/2016-03-24/sewerage-mattresses-clean-up-waterways/7273550

6.http://www.baodongthap.com.vn/newsdetails.aspx?newsid=23284

7.http://khoahoc.tv/doc-dao-cong-nghe-xu-ly-nuoc-thai-benh-vien-bang-cay-lau-say-73519

7b.http://world.kbs.co.kr/vietnamese/archive/program/program_touringseoul.htm?lang=v&No=21340&current_page=6

  1. Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2004: 2 91-95

9.http://conservationmagazine.org/2014/03/water-hyacinth-in-kings-bay/

  1. http://duckweedresearch.blogspot.kr/2011/10/duckweed-wastewater-treatment-plant-in.html
  1. Rau xanh cho các đảo tuyến ngoài

Cùng với sự phát triển của đất nước, các đảo tuyến ngoài hiện nay bắt đầu có thể tự cung cấp rau xanh – điều mà vài trước huyện đảo Phú Qúy không thể làm được1. Thế nhưng, rau xanh cho các đảo vẫn chưa đủ. Mô hình canh tác rau xanh vẫn chưa đạt đến tối ưu.

  • Mưa ở đảo thường có cường độ rất lớn khiến úng ngập, đổ nát thân cây2.
  • Mùa khô, canh tác rau xanh sử dụng nguồn nước ngầm sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt.
  • Đặc trưng địa chất các đảo là đất cát pha nên độ xốp cao, đặc biệt quần đảo Trường Sa có cấu tạo từ vụn san hô nên độ xốp đến 45%3, 4. Chất màu bị rửa trôi hoặc thẩm thấu sâu xuống lòng đất gây hao phí phân bón rất lớn. Không những thế, sự rửa trôi phân bón còn gây ô nhiễm nước ngầm ở các đảo.

4.1 Nước trồng rau

 Xem phần 2: “nước cho trồng trọt”

4.2 Phân bón, đất trồng

Đây là vấn đề nan giải ở Trường Sa vì vậy tôi xin lập một mô hình về Trường Sa. Tại Trường Sa, có bốn nguyên liệu chính có thể dùng làm phân bón hữu cơ rất tốt:

– Những cây phong ba, bã táp, bàng vuông trên các đảo ở Trường Sa khi sinh trưởng quá mức dẫn đến che chắn công sự hoặc cành cây đốn hạ để phònh tránh bão. Những thứ này đem xay vụn ra, phơi khô một tuần nắng.

– Rác thải hữu cơ hàng ngày: Ruột cá, đầu cá, xương cá (có nhiều ở Trường Sa); thực phẩm dư thừa…

– Rễ bèo lục bình để ráo nước (thân lục bình dùng làm thức ăn chăn nuôi).

– Bùn từ bể phốt tự hoại để ráo nước.

Bốn thứ trên cho vào xô nhựa loại 100L có nắp, đậy kín yếm khí trong 50 đến 60 ngày là có thể dùng được. Việc ủ yếm khí rất quan trọng trong việc loại bỏ mần bệnh, giun sán …

– Nước thải sinh hoạt đi ra từ bể phốt, cho chảy qua bể lục bình. Nước đi ra từ bể lục bình được dùng để tưới rau và cây hàng ngày. Theo kinh nghiệm của người Miền Tây, một con heo thịt cần 1m2 ao lục bình.

4.3 Kỹ thuật trồng rau

Việc trang bị nhà kính trồng rau khá tốn kém5. Cá nhân tôi đề xuất mô hình vườn rau phân đội như sau:

– Để tăng hiệu năng sử dụng đất, vườn rau được bố trí phía trên bể nước mưa. Bể có diện tích sàn 10 – 12m2, xây cao 1.5m.

– Vườn rau được che chắn ba phía cao 1.5m, trồng hai tầng rau trong khay nhựa diện tích 1m2/ 1 khay, sâu 15 cm. Lỗ thoát nước của khay không nằm ở đáy mà nằm ở hông, cách đáy 10cm. Với khay trồng muống không cần đục lỗ thoát nước.

– Từ 6 giờ tối đến 5:30 sáng, và từ 10 giờ sáng đến 2:30 chiều vườn rau được che bạt lưới để tránh nắng và tránh hơi muối của biển. Khi trời mưa, giăng bạt PE để hứng nước mưa.

Đối với các đảo nổi ở Trường Sa hay các đảo tuyến ngoài có nhiều diện tích lớn, khi trồng rau trực tiếp xuống đất cần:

  • Lót bạt ở đáy để giữ nước và tránh chất dinh dưỡng của cây bị rửa trôi khi mưa. Lớp đất dày khoảng 30 cm là đủ cho mọi loại rau ngắn ngày phát triển.
  • Phía trên nên phủ bạt để tránh nước bay hơi. Việc phủ bạt có thể giảm đến 99% cỏ dại. Với khí hậu nóng và nắng như Việt Nam, cần dùng loại bạt màu trắng. Sự phản quang của bạt còn xua đuổi côn trùng gây hại.

4.4 Tài liệu tham khảo

  1. https://www.youtube.com/watch?v=NoM6zzza980
  2. http://www.baobariavungtau.com.vn/xa-hoi/201409/mau-xanh-o-tieu-doan-792-con-dao-538351/
  3. Chương 2, đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố san hô, địa hình, địa chất và cấu tạo thạch học của các đảo vùng quần đảo Trường Sa” – GS. TS Hoàng Xuân Lượng
  4. Tạp chí khoa học và công nghệ biển – Tập 1, trang 77 – 92, năm 2009.
  5. http://mic.gov.vn/daotaonghe/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=97293

Tổng kết phần II

Biến đổi khí hậu đặt con người trước những thách thức lớn: nước biển dâng khiến mạch nước ngầm trên các đảo bị suy giảm, mùa khô có xu hướng kéo dài, các cơn mưa trái mùa có thể biến mất hoàn toàn… Đảm bảo nguồn nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất là vấn đề toàn cầu.

Từ thực tế ở các nước phát triển cũng như kinh nghiệm của  nhiều địa phương có thể khẳng định “lưu giữ nước mưa dùng cho sinh hoạt và sản xuất là giải pháp đơn giản và hiệu quả nhất”.

Kiến nghị Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam xây tặng bể nước mưa cho các gia đình chính sách, gia đình có công với cách mạng đang sinh sống ở các huyện đảo tiền tiêu. Tất cả các trường học, công sở ở các huyện đảo nên có một bể nước mưa. Trước mắt là để sử dụng trong các hoạt động công sở. Về mùa khô có thể trở thành điểm phát nước miễn phí có hạn mức cho dân nghèo địa phương.

Tận thu nước thải sinh hoạt dùng để tưới rau vừa bảo vệ môi trường, vừa giúp tiết kiệm phân bón.

Trong canh tác rau ngắn ngày, việc lót bạt mỏng ở đáy vô cùng quan trọng: giúp tiết kiệm nước tưới và hạn chế chất màu thẩm thấu vào đất.

Nhà nước và nhân dân cần quyết tâm bảo vệ bằng được rặng san hô có bán kính khoảng 3 hải lý quanh đảo. Đây chính là bờ kè tự nhiên của đảo, cũng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá để phát triển du lịch mà không phải quốc gia nào cũng có.

28/12/2016

Thanh niên Việt Nam Related