Đóng

Những nội dung cơ bản các quy định của pháp luật về biển, đảo nước ta; vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam.

Những nội dung cơ bản các quy định của pháp luật về biển, đảo nước ta; vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam.

BÀI DỰ THI

 “THANH NIÊN, SINH VIÊN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

VỚI NHIỆM VỤ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN

BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM”

Họ và tên: PHAN VĂN TRUNG

Sinh ngày: 01/10/1992.

Nơi công tác và học tập: Đại Học Soongsil, Hàn Quốc.

Chức vụ: Chi Hội Trưởng Chi Hội Sinh Viên Việt Nam tại Đại Học Soongsil.

Email: phanvantrung01101992@gmail.com

CHỦ ĐỀ DỰ THI:

  – Những nội dung cơ bản các quy định của pháp luật về biển, đảo nước ta; vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam.

  – Đề xuất những giải pháp góp phần truyên truyền vận động cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc và bạn bè quốc tế cũng như người dân Hàn Quốc cùng chung tay xây dựng và bảo vệ biển, đảo Việt Nam. Nâng cao ý thức chủ quyền về biển, đảo quê hương, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc tham gia đóng góp xây dựng biển, đảo.

I.    NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BIỂN, ĐẢO NƯỚC TA VÀ VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM.

    Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam, được cha ông chúng ta dầy công khai phá, quản lý từ hàng trăm năm trước và truyền lại. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “ Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình để phát triển đất nước…”. Đó là ý chí, quyết tâm sắt đá của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

      Do vậy, trong phần này tôi xin trình bày khái quát những nội dung cơ bản của các quy định của pháp luật nước ta về biển, đảo cũng như vị trí chiến lược của của biển, đảo Việt Nam.

1) Những nội dung cơ bản của các quy định của pháp luật về biển, đảo nước ta.

Ngày 21/6/2012, Luật Biển Việt Nam được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013. Luật gồm 7 Chương, 55 Điều, được xây dựng với mục đích hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam.

Chương I: Những quy định chung

   Chương đầu tiên gồm có 7 điều quy định về phạm vi điều chỉnh, việc áp dụng pháp luật, giải thích từ ngữ, nguyên tắc quản lý và bảo vệ biển, chính sách quản lý và bảo vệ biển, hợp tác quốc tế về biển, quản lý nhà nước về biển.

a) Điều 1 của Luật Biển Việt Nam nêu rõ phạm vi điều chỉnh của Luật là đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển, quản lý và bảo vệ biển, đảo. Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Luật là sự tiếp nối lập trường nhất quán của Việt Nam trong vấn đề này, đã được nêu rõ trong Nghị quyết năm 1994 của Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và Luật Biên giới quốc gia năm 2003.

b) Về nguyên tắc và chính sách quản lý, bảo vệ biển, Luật Biển Việt Nam nêu rõ quản lý và bảo vệ biển được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế khác mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

 c) Luật Biển Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán của Nhà nước ta là giải quyết các tranh chấp liên quan biển, đảo với các nước bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế. Nhà nước ta đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biển với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, trong đó nêu nhiều lĩnh vực hợp tác cụ thể về biển và đại dương.

d) Về cơ chế quản lý biển, quản lý biển là một công việc lớn và phức tạp, có liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương trong cả nước. Để đảm bảo nguyên tắc quản lý biển thống nhất, đồng bộ và hiệu quả, Luật Biển Việt Nam quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về biển trong phạm vi cả nước; các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về biển.

Chương II: Vùng biển Việt Nam

 Chương này gồm có 14 điều quy định về việc xác định đường cơ sở, chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam (nội thủy, lãnh hải) và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của ta (vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), đảo, quần đảo và chế độ pháp lý của đảo.

      a) Về đường cơ sở, Luật Biển Việt Nam quy định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Hiện nay ta đã có đường cơ sở từ đảo Cồn Cỏ đến đảo Thổ Chu. Một số khu vực hiện nay chưa có đường cơ sở như vịnh Bắc Bộ, các quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thì Chính phủ sẽ xác định và công bố sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

      b) Nhà nước ta thực hiện chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải Việt Nam. Nội thủy của nước ta là vùng nước nằm giữa bờ biển và đường cơ sở. Lãnh hải của nước ta rộng 12 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Vùng trời, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển của nội thủy và lãnh hải cũng thuộc chủ quyền của nước ta. Nhà nước ta thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Vùng đặc quyền kinh tế của nước ta rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Thềm lục địa của nước ta được xác định căn cứ vào phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất ra đến mép ngoài cùng của rìa lục địa. Ở nơi mép ngoài cùng của rìa lục địa chưa đến 200 hải lý thì phần thềm lục địa mở đến 200 hải lý. Ở nơi mép ngoài cùng của rìa lục địa vượt quá 200 hải lý, thềm lục địa của ta được mở rộng đến 350 hải lý theo các điều kiện và thủ tục Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định. Nhà nước ta đã căn cứ vào quy định của Công ước, tiến hành khảo sát thực tế đáy biển, xác định giới hạn thềm lục địa ở những khu vực mở rộng ra ngoài 200 hải lý. Năm 2009, Chính phủ đã gửi báo cáo về ranh giới thềm lục địa mở rộng của Việt Nam ở hai khu vực cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa xem xét.

      Phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Luật Biển Việt Nam quy định tàu thuyền nước ngoài được quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải nước ta. Tàu quân sự nước ngoài thông báo trước khi đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam. Luật Biển Việt Nam cũng quy định quyền tự do hàng hải, quyền tự do đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam; cũng như quyền lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm trên thềm lục địa Việt Nam. Việc thực hiện các quyền và hoạt động nói trên phải phù hợp Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên và luật pháp Việt Nam về biển.

      c) Đối với các đảo, quần đảo, Luật Biển Việt Nam khẳng định, Nhà nước ta thực hiện chủ quyền trên các đảo, quần đảo Việt Nam. Phù hợp với Điều 121 của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, Luật Biển Việt Nam quy định đảo thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì có nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; còn đảo đá không thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Chương III: Hoạt động trong vùng biển Việt Nam

      Chương III gồm có 20 Điều quy định về nội hàm của việc đi qua không gây hại, nghĩa vụ khi thực hiện quyền này, quy định tuyến hàng hải và phân luồng giao thông.

      Luật Biển Việt Nam quy định rõ những hành vi mà tàu thuyền nước ngoài không được làm khi đi qua lãnh hải nước ta. Cụ thể là không được đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc; luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào; thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam; tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam; phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện bay lên tàu thuyền; phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền; bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế, y tế hoặc xuất nhập cảnh; cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển, đánh bắt hải sản trái phép; nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép v.v.. Tàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến an toàn hàng hải, bảo vệ thiết bị và hệ thống bảo đảm hàng hải, đường dây cáp ngầm, bảo tồn tài nguyên biển, giữ gìn môi trường biển.

      Luật Biển Việt Nam cũng nêu rõ Chính phủ quy định công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải, khi cần thiết lập vùng cấm tạm thời hoặc vùng hạn chế hoạt động trong lãnh hải Việt Nam. Luật Biển Việt Nam cũng quy định tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác khi ở trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam phải nổi trên mặt nước. Trong Chương này, Luật Biển Việt Nam cũng quy định về vấn đề tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ, về giữ gìn bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, về nghiên cứu khoa học biển; đồng thời nêu cụ thể những hành vi bị cấm, như đe dọa chủ quyền, quốc phòng, an ninh Việt Nam; khai thác tài nguyên, lắp đặt sử dụng thiết bị công trình, khoan đào, nghiên cứu khoa học một cách trái phép; tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí chất nổ, chất độc hại, mua bán người, hoạt động cướp biển, phát sóng trái phép.

Chương IV: Phát triển kinh tế biển

      Chương này có 5 điều, quy định các nguyên tắc phát triển biển, các ngành kinh tế biển ưu tiên phát triển, vấn đề quy hoạch phát triển kinh tế biển, khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế biển trên các đảo và hoạt động trên biển.

      Các nguyên tắc phát triển kinh tế biển là phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn trên biển; phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; gắn với phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo. Luật Biển Việt Nam quy định Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế biển: Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; du lịch biển và kinh tế đảo; khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản; phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học – công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển.

      Luật Biển Việt Nam là luật cơ bản về biển của nước ta. Ngoài Luật Biển Việt Nam, chúng ta đã có các luật chuyên ngành như Luật Dầu khí, Luật Thủy sản v.v.. Những nội dung cụ thể của các ngành kinh tế biển được điều chỉnh trong các luật chuyên ngành.

Chương V: Tuần tra, kiểm soát trên biển

      Chương này có 3 điều quy định về lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển; nhiệm vụ và phạm vi trách nhiệm tuần tra, kiểm soát trên biển.

      Luật Biển Việt Nam quy định rõ các lực lượng có thẩm quyền tuần tra, kiểm soát trên biển, gồm: Hải quân nhân dân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Công an nhân dân, các đơn vị quân đội đóng trên các đảo, quần đảo, các lực lượng tuần tra kiểm soát chuyên ngành hải quan, thủy sản, giao thông vận tải, môi trường, y tế và kiểm dịch. Các lực lượng này hoạt động theo nhiệm vụ được quy định cụ thể trong luật pháp Việt Nam và được trang bị cờ, sắc phục, phù hiệu có dấu hiệu đặc trưng. Ngoài các lực lượng chuyên trách nêu trên, khi cần thiết, các cơ quan có thẩm quyền sẽ huy động sự tham gia của các lực lượng bán chuyên trách.

Chương VI: Xử lý vi phạm

      Chương này có 4 điều quy định về dẫn giải và địa điểm xử lý vi phạm, biện pháp bảo đảm tố tụng, xử lý vi phạm, biện pháp đối với đối tượng là người nước ngoài… nhằm đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, đúng pháp luật giữa các cơ quan có trách nhiệm xử lý vi phạm Luật Biển Việt Nam.

Chương VII: Điều khoản thi hành

      Luật Biển Việt Nam có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2013. Chính phủ sẽ ban hành những quy định hướng dẫn thi hành các điều khoản được giao ở trong Luật.

      Việc thông qua Luật Biển Việt Nam là một hoạt động lập pháp quan trọng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan biển, đảo nước ta. Lần đầu tiên nước ta có một văn bản Luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo của nước ta.

      Với việc thông qua Luật Biển Việt Nam, chúng ta đã thực hiện nhiệm vụ mà Quốc hội khóa IX đề ra là bổ sung quy định của luật pháp quốc gia phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam. Cùng với việc khẳng định chủ trương giải quyết các tranh chấp biển, đảo bằng các biện pháp hòa bình, Nhà nước ta đã chuyển một thông điệp quan trọng tới toàn thế giới: Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, quyết tâm phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

2) Vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam.

2.1    Xét về mặt địa lý

Biển Đông (theo tên gọi Việt Nam) là biển rìa lớn nhất của Thái Bình Dương, có diện tích khoảng 3.447 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 3 độ Bắc đến 26 độ Bắc (chiều dài khoảng 1.900 hải lý) và từ kinh độ 100 độ Đông đến 121 độ Đông (nơi rộng nhất của Biển Đông không quá 600 hải lý). Biển Đông là biển nửa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia (gồm Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam) và 1 vùng lãnh thổ (Đài Loan).

2.2    Xét về mặt giao thông hàng hải

Biển Đông nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương thông qua eo biển Basi (nằm giữa Philippines và Đài Loan) và eo biển Đài Loan và eo biển Malacca. Trải qua nhiều thập kỷ trong lịch sử, Biển Đông luôn được coi là con đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Thực tế đã chứng minh, có hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Lượng dầu lửa và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Pa-na-ma. Hàng năm, có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Đông, khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông. Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, trong đó có eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới. Do đó, vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong và ngoài khu vực về địa – chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế.

2.3    Xét về mặt tài nguyên thiên nhiên

Theo nhiều dự báo khoa học, Biển Đông rất giàu tài nguyên cả nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật. Về tài nguyên hải sản, với khoảng 2000 loài cá khác nhau và các loài đặc sản khác (tôm, cua, trai, tảo biển,…) là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng không bao giờ cạn nếu biết giữ gìn và bảo vệ. Biển Đông chứa đựng một tiềm năng lớn tài nguyên dầu khí. Toàn bộ thềm lục địa của Biển Đông được bao phủ bởi lớp trầm tích đệ tam dày, có nơi còn lan sang cả dốc và bờ ngoài của rìa lục địa. Các khu vực có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bru-nây-Saba, Sarawak, Malay, Phattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, sông Hồng, cửa sông Hậu Giang. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính (Bà Rịa Vũng Tàu). Khu vực đáy biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa các mỏ khoáng sản sun phít đa kim, kết cuội sắt mangan. Ngoài ra, biển Đông còn là vùng biển nước sâu rộng lớn, có nhiều tiền đề thuận lợi cho việc thành tạo và tích tụ băng cháy (còn gọi là khí hydrat).

2.4    Xét về mặt an ninh quốc phòng

Ngoài bề mặt rộng lớn của Biển Đông, các đảo, quần đảo nằm trong vùng biển rộng lớn này cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng về chiến lược phòng thủ bảo vệ Tổ quốc của mỗi quốc gia. Hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam nằm ở trung tâm biển Đông thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè, phục vụ cho tuyến đường hàng hải.

2.5    Xét dưới góc độ pháp lý

Biển Đông là nơi hiện diện hầu như tất cả các vấn đề được quy định trong Công ước Luật Biển năm 1982 như: Quốc gia ven biển, quốc gia quần đảo, quốc gia không có biển, các vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển, khai thác chung, phân định biển, vùng nước lịch sử, vùng đánh cá, vấn đề về biển kín, biển nửa kín, eo biển quốc tế, đàn cá di cư và đàn cá xuyên biên giới, hợp tác quản lý tài nguyên sinh vật biển, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, chống cướp biển, an toàn hàng hải và tìm kiếm cứu nạn,…Việc mở rộng phạm vi chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven Biển Đông căn cứ theo Công ước Luật Biển 1982 đã dẫn đến việc hình thành các khu vực chồng lấn và tranh chấp về tài nguyên nghề cá, dầu khí, khoáng sản, xây dựng và lắp đặt các công trình biển,… Thực tế, Biển Đông có nhiều tranh chấp liên quan đến phân định biển, đặc biệt nổi lên là tranh chấp chủ quyền đối với các đảo liên quan đến nhiều quốc gia rất phức tạp. Các tranh chấp này không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ giữa các quốc gia ven Biển Đông, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều quốc gia khác, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định và sự hợp tác phát triển trong khu vực.

II. CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

“Góp phần truyên truyền vận động cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc và bạn bè quốc tế cũng như người dân Hàn Quốc cùng chung tay xây dựng và bảo vệ biển, đảo Việt Nam. Nâng cao ý thức chủ quyền về biển, đảo quê hương, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc tham gia đóng góp xây dựng biển, đảo.”

      Tình hình biển đảo Việt Nam hiện nay đang có những diễn biến phức tạp đe dọa trực tiếp đến chủ quyền lãnh thổ dân tộc. Do vậy, để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, điều tiên quyết đặt ra là phải không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo là rất cấp thiết và quan trọng không chỉ với nhân dân trong nước mà còn đối với đồng bào Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là ở các nước có cộng đồng người Việt đông đảo. Một điển hình đó là Hàn Quốc, một quốc gia có số lượng người việt đang sinh sống, làm việc và học tập đứng đầu trong các nhóm nước có người Việt đang sinh sống.

      Là một sinh viên cao học tại đại học Soongsil, thủ đô Seoul, Hàn Quốc, tôi đã và đang có cơ hội tiếp xúc hàng ngày với không chỉ với cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc, người dân Hàn Quốc, mà còn các bạn bè quốc tế đến từ năm châu trên thế giới như Mỹ, Anh, Úc, Nhật…. Tôi ý thức được rằng để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết sinh viên, học sinh hay người lao động tại Hàn Quốc phải xác định giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị chủ quyền to lớn mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa và Trường xa. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển đông cũng như nội dung của luật pháp, chế độ pháp lý của các vùng biển theo Công ước Liên hợp quốc tế về Luật biển năm 1982.

      Hiện nay, đã có rất nhiều các giải pháp được đề xuất để đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo ở nhiều nước trên thế giới. Nhưng công tác tuyên truyền biển, đảo cần bám sát thực tiễn tình hình tại các nước bản địa, không ngừng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyên truyền cho phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng, đồng thời tận dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật và chú trọng mở rộng phạm vi tuyên truyền tại các nước có cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống. Do vậy, trong bài dự thi này, tôi xin đề xuất một số các giải pháp khả thi có thể áp dụng để tuyên truyền vận động cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc và bạn bè quốc tế cũng như người dân Hàn Quốc cùng chung tay xây dựng và bảo vệ biển, đảo Việt Nam. Từ đó nâng cao ý thức chủ quyền về biển, đảo quê hương; nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc tham gia đóng góp xây dựng biển, đảo. Cụ thể, các giải pháp đề xuất sẽ được phân loại và áp dụng theo các nhóm đối tượng tuyên truyền chính (Học sinh – sinh viên, người lao động và gia đình văn hóa) sao cho phù hợp và dễ dàng để triển khai.

1)    Nhóm đối tượng tuyên truyền là học sinh, sinh viên đang học tập tại Hàn Quốc.

–         Đặc điểm: Là học sinh, sinh viên đang theo học các trường học, Đại học trên toàn Hàn Quốc.

–         Các giải pháp đề xuất:

   Với nhóm đối tượng tuyên truyền là học sinh, sinh viên tại các trường học, Đại học trên toàn Hàn Quốc, đây có thể nói là một lực lượng rất trẻ và nhiệt huyết trong việc tuyên truyền vận động cộng đồng về chủ quyền biển đảo Việt Nam. Đặc biệt là sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng trên mạng internet, các trang mạng xã hội và các diễn đàn. Cụ thể chúng ta có thể áp dụng các giải pháp sau:

 Giải pháp 1: Các chi hội sinh viên tại các trường học, Đại học tận dụng sức mạnh liên kết và lan truyền thông tin của các mạng xã hội Facebook [1], Instagram [2], Twitter [3] để đăng các bài đăng (post), chia sẻ (share) các bài đăng chính thống khác với các chủ đề như:

             + Bằng chứng lịch sử về chủ quyền biển đảo quốc gia.

             + Giá trị của biển đảo đối với cuộc sống của người Việt Nam.

             + Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chủ quyền biển đảo.

             + Kêu gọi cộng đồng hãy chung tay bảo vệ chủ quyền quốc gia.

             …

Tham khảo:

[1]: https://www.facebook.com

[2]: https://www.instagram.com

[3]: https://twitter.com

   Giải pháp 2: Các học sinh, sinh viên năng động trên toàn Hàn Quốc có thể tham gia các hội nhóm (group) trên Facebook như: Korea International Student Association (KISA) [4], Global Students Mentoring Forum (GSMF) [5], International Students in Korea (ISK) [6], để có cơ hội tiếp xúc học hỏi với rất nhiều các bạn bè quốc tế cũng như các bạn trẻ Hàn Quốc. Hơn nữa, các group trên thường xuyên có các hoạt động tập thể, ngoại khóa và các buổi thuyết trình. Trong các sự kiện (event) đó các bạn sinh viên Việt có thể xung phong nói hoặc thuyết trình những chủ để liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo không những của Việt Nam mà với các nước khác trong khu vực. Việc này một phần góp phần làm tăng hiểu biết của chính các bạn về chủ quyền lãnh thổ, và còn giúp các bạn bè quốc tế trong các nhóm trên hiểu được tình hình biển đảo trong khu vực hiện nay.

Tham khảo:

[4]: https://www.facebook.com/kinsa.org

[5]: https://www.facebook.com/groups/GSMF.korea

[6]: https://www.facebook.com/groups/internationalstudentsinsouthkorea

   Giải pháp 3: Các chi hội học sinh, sinh viên tại các trường tích cực phổ biến và đăng ký tham gia các cuộc thi viết bài về chủ quyền biển đảo như:

            + Thanh niên, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam (2016).

             + Biển đảo Tổ quốc tôi (2016).

   Qua các cuộc thi như thế này thì các học sinh, sinh viên sẽ có thêm kiến thức về chủ quyền biển đảo, ý thức được trách nhiệm trong việc tham gia đóng góp xây dựng biển, đảo.

2)    Nhóm đối tượng tuyên truyền là những người lao động bao gồm lao động tri thức và lao động phổ thông tại Hàn Quốc.

–         Đặc điểm: Là những người làm công sở tại các công ty đối với lao động tri thức và những người làm tại các công xưởng, nhà xưởng đối với các lao động phổ thông tại Hàn Quốc.

–         Các giải pháp đề xuất:

   Với nhóm đối tượng là những người lao động tại các công ty, công sở và nhà xưởng thì đây cũng được xem là một lực lượng rất lớn tại Hàn Quốc có thể thực hiện tuyên truyền về chủ quyền biển đảo của đất nước tới cộng đồng người việt và các bạn bè quốc tế hiện nay. Cụ thể chúng ta có thể áp dụng các giải pháp đề xuất như sau:

                 Giải pháp 4: Hội người lao động tại Hàn Quốc, Đại Sứ Quán Việt Nam tại Hàn Quốc có thể kêu gọi tổ chức các lễ hội mang tính chất như “Lễ hội văn hóa Việt Nam tại Hàn Quốc” cho những người lao động để họ có thể tham gia vào các ngày nghỉ cuối tuần:

                  + Tại các lễ hội này, các chương trình về chủ quyền biển đảo nên được lồng ghép vào như tổ chức các bài hát tập thể trong lễ hội với chủ đề yêu tổ quốc và bảo về chủ quyền quốc gia cho tất cả mọi người lao động tham gia.

                 + In và phát các tờ rơi có in các nội dung, hình ảnh về bảo vệ chủ quyền biển đảo có cả 3 ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Hàn, tiếng Anh) và phát cho những người tham gia các lễ hội.

                 Giải pháp 5: Hội người lao động tại Hàn Quốc, Đại Sứ Quán Việt Nam tại Hàn Quốc có thể liên hệ với các tổ chức việc làm của Hàn Quốc để liên kết tổ chức các chương trình “Lễ hội việc làm Việt – Hàn” với mục đích quảng bá tuyển dụng nhân viên người Việt Nam cho các công ty Hàn Quốc. Một phần giúp những người lao động Việt Nam dễ dàng có các cơ hội việc làm tốt, và cũng giúp các doanh nghiệp, công ty, cơ sở sản xuất Hàn Quốc có cơ hội tuyển dụng được những nhân viên chất lượng tốt thông qua việc quảng bá thông tin tuyển dụng tại lễ hội việc làm. Và trong khi lễ hội diễn ra, sẽ có các chương trình về chủ quyền biển đảo lồng ghép để thực hiện việc tuyên truyền (như trong giải pháp 4 đã đề cập).

                 Giải pháp 6: Nhân viên trong các văn phòng công ty, công xưởng nên mạnh dạn đề xuất với các chủ công ty, cơ sở sản xuất có các giờ nghỉ đặc biệt (Happy Hour) trong một tuần để cho các nhân viên, công nhân trong công ty, cơ sở sản xuất được chia sẻ cùng nhau một vấn đề nào đó trong mà họ đang quan tâm trong đời sống. Các nhân viên người Việt Nam có thể chia sẻ những thông tin về chủ đề chủ quyền biển đảo cho các nhân viên khác trong công ty (có thể là người Việt, Hàn,…). Việc này giúp ích rất nhiều trong việc phổ biến hiểu biết cho cộng đồng người Việt, bạn bè quốc tế về chủ quyền biển đảo của đất nước Việt Nam.

3)    Nhóm đối tượng tuyên truyền là Gia đình văn hóa (Cô dâu Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc) tại Hàn Quốc.

–         Đặc điểm: Là những gia đình Hàn Quốc có cô dâu Việt Nam đang sinh sống.

–         Các giải pháp đề xuất:

   Do đặc điểm của nhóm đối tượng tuyên truyền này khá khác biệt so với hai nhóm đã đề cập ở trên. Đó là họ có cuộc sống sinh hoạt hàng ngày trực tiếp với gia đình người Hàn (chồng, bố mẹ chồng, con cái), vì vậy họ hiểu rất rõ đời sống của các gia đình người Hàn. Có thể nói, đây là nhóm đối tượng tuyên truyền không những có khả năng tự nâng cao nhận thức về chủ quyền biển đảo Việt Nam, mà còn dễ dàng tuyên truyền phổ biến vào cộng đồng người Hàn. Do vậy chúng ta có thể nghĩ tới các giải pháp sau:

Giải pháp 7: Tại các trung tâm hỗ trợ tư vấn cho cô dâu Việt Nam tại Hàn Quốc tổ chức các chương trình phổ biến kiến thức chủ quyền biển đảo và tình hình biển đảo hiện nay cho các bà mẹ, con cái tại các gia đình đa văn hóa.

    Ví dụ: Cử đại diện tuyên truyền xuống thuyết trình và cung cấp các ấn phẩm có nội dung về việc bảo vệ chủ quyền biển đảo đến tận tay các cô dâu Việt với hai ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Hàn). Khuyến khích các bà mẹ tuyên truyền trực tiếp tại gia đình mình bằng các hình thức như ấn phẩm, các đoạn phim về biển đảo Việt Nam, các thông tin chính thống từ Nhà nước Việt Nam. Giải pháp này trực tiếp góp phần nâng cao nhận thức của các cô dâu về chủ quyền biển đảo quê hương đất nước thông qua các buổi thuyết trình, chia sẻ của đại diện tuyên truyền từ các cấp trên.

   Giải pháp 8: Một cách tiếp cận khác nữa với nhóm đối tượng tuyên truyền này là tổ chức các cuộc thi, lễ hội, giải thể thao, văn nghệ cho các gia đình đa văn hóa, và xen kẽ vào đó là các chương trình để tuyên truyền về chủ quyền biển đảo. Từ các cuộc thi hay lễ hội như vậy thì không chỉ các cô dâu mà còn chồng và con người Hàn cũng có ý thức nhận thức về chủ quyền biển đảo Việt Nam.

   Ví dụ: Tại giải thể thao ICFOOD 2016 kết hợp với lễ hội cho các gia đình văn hóa tại Thành phố Daejeon có các chương trình, tiết mục văn nghệ thể hiện tình yêu và hướng quê hương đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Hình 10: Tiết mục văn nghệ của các gia đình đa văn hóa tại thành phố Daejeon, Hàn Quốc.

III. KẾT LUẬN

Trong bài dự thi này tôi:

           – Trình bày những nội dung cơ bản các quy định của pháp luật về biển, đảo nước ta; vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam.

            – Đề xuất 08 giải pháp góp phần truyên truyền vận động cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc và bạn bè quốc tế cũng như người dân Hàn Quốc cùng chung tay xây dựng và bảo vệ biển, đảo Việt Nam. Nâng cao ý thức chủ quyền về biển, đảo quê hương, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc tham gia đóng góp xây dựng biển, đảo.

           Tôi mong rằng với các kiến thức, giải pháp tôi đã đề cập và đề xuất thì bài dự thi sẽ được hội đồng xét duyệt cuộc thi “Thanh niên, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam” đánh giá các đóng góp một cách đúng đắn và công bằng nhất.

           Xin chân thành cám ơn!

                                                                             Người viết bài dự thi

                                                                               Phan Văn Trung

29/12/2016

Thanh niên Việt Nam Related