Đóng

CÁC KHÍA CẠNH CỦA LUẬT PHÁP QUỐC TẾ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN BIỂN ĐÔNG

CÁC KHÍA CẠNH CỦA LUẬT PHÁP QUỐC TẾ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN TRÊN BIỂN ĐÔNG

Biển Đông từ lâu đã được coi là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự bất ổn trong khu vực Đông Nam Á nói riêng và khu vực châu Á Thái Bình dương nói chung. Cùng với sự phát triển về văn hóa, chính trị, chính sách ngoại giao và đặc biệt là kinh tế quân sự, các nước đã có nhiều yêu sách cứng rắn hơn về chủ quyền trên  biển Đông khiến cho tình hình ở khu vực ngày càng trở nên căng thẳng. Sự không đồng thuận đã dẫn đến nhiều tranh chấp về chủ quyền gây ảnh hưởng tới an ninh và các mối quan hệ ngoại giao không chỉ giữa các nước có tranh chấp, mà còn là an ninh khu vực và cả thế giới. Việc có bên liên quan ngày càng có các động thái cứng rắn, quyết liệt hơn trong mối quan hệ về chủ quyền trên biển Đông, bao gồm cả việc sẵn  sàng đe dọa  sử dụng sức mạnh quân sự bất chấp sự phản đối của cộng đồng quốc tế đã dấy lên hồi chuông cảnh báo về các nỗ lực hòa bình đàm phán để giữ gìn an ninh trong khu vực. Trong hoàn cảnh này, có thể nói luật pháp quốc tế đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của các bên liên quan, trong đó có cả các thỏa thuận song phương và đa phương.

Có thể thấy rằng hệ thống luật pháp quốc tế về biển đã ra đời và phát triển từ rất lâu, tuy nhiên lại có nhiều lỗ hổng và tính ràng buộc chưa cao cùng với sự không rõ ràng ở nhiều điều khoản quan trọng. Chính điều này tạo nên cách ứng xử có phần lúng túng của các bên tham gia. Đơn cử, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 được xem như là văn bản luật có tính pháp lý cao nhất trong lĩnh vực này, tuy nhiên phần phụ lục của Công ước lại có nhiều quy định chưa thật sự rõ ràng về việc giải quyết tranh chấp thông qua tòa trọng tài. Theo các phụ lục này, các bên tranh chấp có quyền đề đạt lên Tòa để được giải quyết, tuy nhiên lại không có quy định nào về việc bắt buộc tham gia phiên tòa của các bên.

Một điểm  cần nhấn mạnh nữa là, bản thân quyết định của Tòa trọng tài quốc tế là bắt buộc thực hiện (theo quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982), tuy nhiên Tòa lại không có một hệ thống các cơ quan đảm bảo cho việc thực thi bản án. Chính điều này đã tạo nên áp lực vô cùng lớn cho các nước trong việc giải quyết các tranh chấp thông qua Tòa trọng tài quốc tế, mà tranh chấp trên biển Đông giữa Philipines và Trung Quốc là một ví dụ điển hình.

  1. Vài nét về lịch sử chủ quyền trên biển đông

Biển Đông là khu vực tiềm năng bậc nhất thuộc khối các nước Đông Nam Á với nguồn tiềm năng biển vô cùng dồi dào cùng vị trí chiến lược kinh tế – quân sự – quốc phòng quan trọng. Biển Đông là cửa ngõ của dòng chảy kinh tế Á – Âu, nơi dịch chuyển số lượng hàng hóa lớn bật nhất thế giới. Nói cách khác, chính những vai trò, tiềm năng quan trọng này đã khiến những tranh chấp trên biển Đông dai dẳng và ngày càng trở nên gay gắt trong bối cảnh chung của thế giới có nhiều biến động. Ngoài những thành tựu đạt được trong việc thỏa thuận song phương giữa các quốc gia có vùng biển chồng lấn, yêu sách về chủ quyền đối trên biển Đông vẫn là câu hỏi chưa có hồi kết trong thời gian tới đây.

Các bằng chứng lịch sử cho thấy, các bên đã thực thi các hành động khai thác nguồn tài nguyên dồi dào trên trên biển Đông từ rất lâu đời. Trong 20 năm trở lại đây, tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết cùng với yêu sách của các bên liên quan. Sự “xoay trục” của Mỹ sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương (ATP), với mong muốn thiết lập lại sự ảnh hưởng đối với các nước trong khu vực này đã tạo ra các yếu tố mới đối với các bên. Đặc biệt trong mối quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc – nước vốn có tiềm năng lớn nhất trong khu vực – sự ảnh hưởng này buộc chính quyền Bắc Kinh phải dè chừng trong chừng mực nhất định.

  1. Luận điểm của các bên tranh chấp.

Có thể nói rằng, Trung Quốc chính là nước châm ngòi cho cuộc chiến tranh chấp chủ quyền trên biển Đông bằng các chính sách đầy toan tính mang lại lợi ích cho mình. Liên tục trốn tránh việc kí kết COC thay cho DOC đã thể hiện phần nào quan điểm của Bắc Kinh về giải quyết tranh chấp trên biển Đông. Dù đã kí kết và thừa nhận DOC, nhưng Trung Quốc liên tục tiến hành các hành động vi phạm các điều khoản trong bộ quy tắc ứng xử này. Trung Quốc đưa ra đường chủ quyền mới trên Biển Đông và vấp phải sự phản đối quyết liệt từ các nước liên quan, đặc biệt là Việt Nam và Philippines. Để củng cố cho luận điểm của mình, Bắc Kinh tiến hành hàng loạt các cuộc cải tạo, bồi đắp đảo và quần đảo trong khu vực biển Đông[1]. Ngoài ra, sức mạnh quân sự cũng được sử dụng bao gồm hàng loạt tàu chiến, hạm đội, tàu sân bay, máy bay chiến đấu và gần đây nhất là sân bay cỡ lớn…mà theo Trung Quốc chỉ để bảo vệ sự an toàn của ngư dân nước này trên biển. Tốc độ và quy mô mà nước này sử dụng để khai thác, tôn tạo ở biển Đông nhiều hơn tất cả các nước khác trong vòng 100 năm trở lại đây. Chính điều này đã gây ra một vấn đề nghiêm trọng hơn về môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên trên biển[2],theo ý kiến của các chuyên gia hậu quả là không thể khắc phục.

Những hành động của Bắc Kinh trên biển và trong mối quan hệ với các nước tranh chấp vấp phải sự phản đối quyết liệt của cộng đồng các nước, đặc biệt đối với việc nước này tự ý đưa giàn khoan thăm dò dầu khí vào vùng biển của Việt Nam ngày 01/05/2014. Dù không thừa nhận việc sử dụng sức mạnh quân sự chống lại việc đánh bắt khai thác nguồn tài nguyên biển hợp pháp của Việt Nam trong vùng biển thuộc sở hữu hợp pháp của nước này, nhiều tài liệu từ các phóng viên, nhà nghiên cứu quốc tế đã chứng minh điều này[3]. Đáp lại, Bắc Kinh cho rằng, nước này chỉ thực hiện các hành động bảo vệ chủ quyền trên biển chính đáng của mình.Những nỗ lực cải thiện tình hình giữa các bên liên quan, điển hình là hàng loạt các chuyến thăm ngoại giao giữa lãnh đạo các nước đều không đạt được hiệu quả.

Philipines là nước phản ứng quyết liệt nhất đối với những bước đi của Trung Quốc trên biển Đông thể hiên qua hàng loạt các tuyên bố cứng rắn trên mặt trận ngoại giao, và gần đây nước này đã đưa tranh chấp trên biển Đông ra Tòa trọng tài quốc tế. Quan điểm của nước này được thể hiện qua các luận điểm sau:

Thứ nhất, Trung Quốc chưa bao giờ có những luận chứng luận điểm hay bằng chứng xác thực nào chứng minh cho “ quyền lịch sử” của mình đối với các vùng biển tranh chấp trên biển Đông. Hơn nữa, mặc dù nước này thể hiện quyền lịch sử trong bản đồ mới trên biển mà Bắc Kinh gọi là “ đường chín đoạn” không hề có tên gọi cụ thể đối với các thực thể trên biển.

Thứ hai, theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 không có điều luật đề cập đến quyền lịch sử mà Trung Quốc yêu sách đối với các vùng biển tranh chấp.

Thứ ba, những thực thể địa lý nổi lên khỏi mặt nước lúc triều cao thuộc khu vực tranh chấp không có điều kiện để cho con người sinh sống và thực hiện các hoạt động sản xuất, như vậy theo quy định của luật quốc tế, các quốc gia không thể yêu cầu vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đối với các thực thể này.

Thứ tư, Philipines chỉ ra rằng Bắc Kinh đã vi phạm các điều khoản của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982. Cụ thể nước này đã cản trở việc khai thác hợp pháp nguồn tài nguyên trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế tính theo Công ước quốc tế của Philipines. Ngoài ra các hoạt động khai thác nguồn tài nguyên trên biển tàn phá nghiêm trọng môi trường biển mà theo các chuyên gia là không thể phục hồi.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng phớt lờ sự tham gia của Tòa trọng tài quốc tế vào việc giải quyết tranh chấp đồng thời làm nghiêm trọng hơn vấn đề khi song song tăng cường việc khai thác bồi đắp các thực thể trong quá trình xét xử[4].

Việt Nam tham gia vào tranh chấp biển Đông với tư cách một quốc gia trực tiếp liên quan và bị ảnh hưởng nhiều nhất trong vụ tranh chấp này.  Từ xưa tới nay, Việt Nam vẫn giữ quan điểm nhất quán về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như có các bằng chứng lịch sử cho quan điểm này. Theo nghiên cứu của PGS-TS Nguyễn Hồng Thao trong bài viết: “Quan điểm của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển trên biển Đông” thể hiện rõ ràng các bằng chứng lịch sử cũng như quan điểm nhất quán của Việt Nam.

Trong bối cảnh có nhiều thay đổi và căng thẳng của thế giới, Việt Nam giữ thái độ cứng rắn đối với các hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, đồng thời kêu gọi các bên tôn trọng luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp.

Đệ trình của Philipines và phán quyết của Tòa án trọng tài

Trung Quốc đã công khai tuyên bố rằng không thừa nhận điều 298 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982[5], nói cách khác không thừa nhận thẩm quyền của Tòa trong việc giải quyết tranh chấp về chủ quyền trên biển Đông. Ngoài ra Bắc Kinh còn không thừa nhận việc Tòa xem xét vụ kiện theo yêu cầu đơn phương từ phía Manila cũng như việc tuyên bố không tham gia vào quá trình xét xử, không thừa nhận bất kì phán quyết nào của tòa, đồng thời còn cho rằng chính Philipines làm xấu đi tình hình hiện tại. Hành động này thể hiện quan điểm cứng rắn của Trung Quốc đối với yêu sách của Philipines bất chấp sự ảnh hưởng của cộng đồng quốc tế kêu gọi nước này tôn trọng luật pháp quốc tế.

Để khẳng định quan điểm của mình đối với vấn đề biển Đông cũng như trình bày các bằng chứng, luận điểm của mìnhTrung Quốc cho xuất bản cuốn “Tài liệu lập trường[6]” ngày 7/12/2014. Đây được xem là bản tài liệu thể hiện cụ thể quan điểm của Trung Quốc đối với vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, đồng thời là sự đáp trả của Bắc Kinh đối với các luận điểm mà Manila đưa ra trước Tòa trọng tài.

Có thể nói, việc không tham gia vào quá trình tố tụng cũng như tuyên bố không thừa nhận phán quyết của tòa án, đã tạo nên hình ảnh Trung Quốc – một nước có tiềm lực lớn – thách thức luật pháp quốc tế. Chính điều này đã làm cho Philipines nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế nói chung trong việc chủ động giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình. Quan điểm của Manila về vụ kiện là một “phép thử về sức mạnh và sự ổn định của luật pháp quốc tế”, thì Bắc Kinh lại cho đây là “sự thách thức về chính trị” và đặt Trung Quốc vào thế phải đi vào tranh chấp. Nước này cũng cho rằng mình là nạn nhân của vụ tranh chấp ở biển Đông, hơn nữa đã kiềm chế hết sức để bảo vệ nền hòa bình và yên ổn của khu vực.

Nhiều ý kiến chuyên gia đánh giá tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề căng thẳng nhất trong thời gian tới ở khu vực này và có thể dẫn tới việc sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực giữa các bên liên quan, bất chấp việc phán quyết của tòa án như thế nào. Nhà địa chất học Richar Nedarian đã nêu ra một vấn đề mới trong vụ việc, đó là trong lúc Philipines và các nước đang đổ dồn sự chú ý vào phán quyết của Tòa trọng tài thì Trung Quốc đã thực thi hóa các “quyền lịch sử” của mình trên biển Đông. Theo ông, chiến thắng của Manila chỉ có ý nghĩa về mặt tinh thần nếu như Bắc Kinh giữ vững lập trường không tuân thủ theo phán quyết của Tòa như tuyên bố của nước này.Có thể thấy rằng, Trung Quốc de-facto vẫn đang bất chấp mọi sự phản đối và tiến hành các hành động thực thi chủ quyền trái phép của mình trên biển Đông.

Sau hơn 3 năm tiếp nhận vụ kiện đơn phương từ Philipines kể từ ngày 22 tháng 1 năm 2013 khi nước này gửi tới Trung Quốc một thông báo và một yêu sách về “tranh chấp với Trung Quốc xung quanh quyền tài phán của Philipines ở biển Tây Philipines” (Biển Đông), ngày 12 tháng 7 năm 2016 Tòa trọng tài đã công bố phán quyết cuối cùng về vụ kiện, đây là phán quyết quốc tế đầu tiên liên quan tới biển Đông. Bất chấp sự phản đối từ cộng đồng quốc tế cũng như lời kêu gọi các bên tuân thủ luật pháp quốc tế, Trung Quốc công khai không thừa nhận phán quyết của Tòa trọng tài.Tuy nhiên xét ở một góc độ nào đóphán quyết cuối cùng này của Tòa đối với Trung Quốc và các bên liên quan cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ về mặt chính trị.

Theo ý kiến của các chuyên gia, phán quyết cuối cùng của tòa có thể trở thành một tiền lệ để giải quyết các tranh chấp tương tự sau này. Các điểm chính của phán quyết được trình bày như sau:

  • Tòa bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc về đường chín đoạn.
  • Các thực thể thuộc khu vực tranh chấp trên biển Đông mà Trung Quốc gọi là các đảo, theo phán quyết của Tòa trọng tài đều không có vùng đặc quyền kinh tế theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, bao gồm cả Ba Bình – hiện là đảo lớn nhất do Đài Loan đang chiếm giữ.
  • Mặc dù trên thực tế Trung Quốc đã tiến hành bồi đắp các đảo nhân tạo với quy mô và tốc độ cực lớn trong khoản thời gian từ năm 2012-2016 trên các đảo, quần đảo thuộc khu vực tranh chấp, tuy nhiên theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, các “đảo nhân tạo” này cũng không phải là đối tượng để tuyên bố chủ quyền.
  • Việc tiến hành bồi đắp các đảo nhân tạo của Trung Quốc trên các đảo, quần đảo thuộc khu vực tranh chấp cũng như các hoạt động khai thác nguồn tài nguyên biển của quốc gia này đã gây ra các hậu quả cực kì nghiêm trọng và không thể phục hồi đối với môi trường biển thuộc khu vực tranh chấp.

Sau phán quyết của tòa, chiến thắng đã thuộc về Philipines, bên tranh chấp đã dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế để giải quyết, mà đơn cử là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982. Phán quyết này nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các nhiều nước.Tuy nhiên, Trung Quốc đã bác bỏ hoàn toàn phán quyết của tòa, ngay sau khi phán quyết được công bố, điều này một lần nữa tạo áp lực lên quá trình giải quyết tranh chấp ở biển Đông.

Câu hỏi về việc giải quyết các tranh chấp trên biển Đông vẫn đang bỏ ngỏ trong bối cảnh phán quyết của Tòa không đạt được hiệu quả cần có, như vậy các bên cần tìm ra một con đường hiệu quả hơn, đặc biệt là Việt Nam. Sau vụ kiện của Philipines, chúng ta đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm hơn nếu muốn đưa vấn đề một lần nữa ra Tòa trọng tài.

  1. Một vài ý kiến về con đường giải quyết tranh chấp ở biển Đông.

Có thể chắc chắn rằng Trung Quốc hiện nay là nước có tiềm lực kinh tế chính trị quốc phòng lớn nhất trong khu vực và tất nhiên ảnh hưởng của nước này lên các quốc gia khác không hề nhỏ.Tuy nhiên, việc nước này công khai không tuân thủ phán quyết của Tòa cũng tạo áp lực chính trị từ cộng đồng quốc tế.Cụ thể, các nước tranh chấp với Bắc Kinh đều thuộc khối ASEAN. Mặc dù không phải tất cả các nước trong khối đều tham gia tranh chấp, nhưng chiến thắng trong tranh chấp tạo điều kiện cho sự ổn định phồn vinh và phát triển của khối nói chung. Sự đoàn kết nội bộ giữa các nước trong khối là điều kiện tiên quyết cho sự bền vững và ổn định. Việt Nam nói riêng và các nước nói chung, để đạt được chiến thắng trong cuộc chiến với Trung Quốc cần phải có nhiều động thái hơn nữa để có thể đạt được tiếng nói chung trong khu vực.

Trước mắt, việc đi đến kí kết COC có lẽ vẫn gặp nhiều trở ngại, các cuộc gặp song phương và đa phương cần được thúc đẩy nhiều hơn nữa để văn bản này có thể được kí kết.Đây có thể là bước tiến cần thiết nhất để kiềm chế hành động của các bên liên quan trong cuộc tranh chấp trên biển Đông.

Nằm trong nhiều tầng áp lực khác nhau, Việt Nam có lẽ là nước vấp phải nhiều khó khăn nhất trong tranh chấp.Việc chiến thắng của Philipines đã tạo động lực to lớn cũng như nhiều bài học kinh nghiệm cho Hà Nội trong cuộc chiến này. Chúng ta cần phải có sự chuẩn bị rõ ràng và đầy đủ hơn nữa để có thể giành được chiến thắng. Trong thời gian tới đây, trong tình hình có nhiều áp lực, các nhà lãnh đạo phải lựa chọn các bước đi cần thiết hơn trong việc tuyên truyền, công bố các văn bản, tài liệu lịch sử chủ quyền của nước ta đối với biển Đông. Bên cạnh đó, việc tranh thủ sự ảnh hưởng của cộng đồng quốc tế cũng là bước đi quan trọng mà Việt Nam cần lúc này.

[1]Lê Qúy Quỳnh, Trần Thị Phương Thảo, “Trung Quốc bồi đắp, tôn tạo trái phép các cấu trúc địa lý trên biển Đông.Đấu tranh của Việt Nam và phản ứng của cộng đồng quốc tế”. URL: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/5944-trung-quoc-boi-dap-va-ton-tao-trai-phep-cac-cau-truc-dia-ly-tren-bien-dong( Tham khảo lần cuối 14/10/2016).

[2]“Trung Quốc là thủ phạm tàn phá biển Đông”, URL: http://vnsea.net/tabid/128/ArticleID/5703/language/vi-VN/Default.aspx?returnUrl=http://vnsea.net/tabid/127/language/vi-VN/Default.aspx(tham khảo lần cuối 14/10/2016).

[3]“Tàu Trung Quốc tiếp tục dùng vòi rồng tấn công tàu Việt Nam”, phát sóng ngày 28/05/2014 trên kênh VTV1, URL: http://vtv.vn/video/tau-trung-quoc-tiep-tuc-dung-voi-rong-tan-cong-tau-viet-nam-40057.htm (tham khảo lần cuối 14/10/2016).

[4]Dương Danh Huy, “Việc Trung Quốc xây đảo ồ ạt và UNCLOS”, URL: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/5030-viec-trung-quoc-xay-dao-o-at-va-unclos (tham khảo lần cuối ngày 14/10/2016).

[5]Công ước của Liên hợp quốc về luật biển, kí kết ngày 10/12/1982, URL: http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-thong-Van-tai/Cong-uoc-Lien-hop-quoc-ve-Luat-bien-10-12-1982-86219.aspx (tham khảo lần cuối ngày 14/10/2016).

6 “Position Paper of the Government of the People’s Republic of China on the Matter of Jurisdiction in the South China Sea Arbitration Initiated by the Republic of the Philippines”, URL: http://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/zxxx_662805/t1217147.shtml (tham khảo lần cuối ngày 14/10/2016).

29/12/2016

Thanh niên Việt Nam Related